05- Trường
Cao Đẳng Nông Lâm Súc (Sàig̣n) - Số 45 đại lộ
Cường Để-Quận 1-Sàig̣n
Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc
(Sàig̣n) là hậu thân của trường Cao Đẳng
Nông Lâm Súc Bảo Lộc dời về địa điểm
số 45, đại lộ Cường Để-Quận
1-Sàig̣n vào năm 1963.
Sau đây là sơ lược việc thành lập Trường
Cao Đẳng Nông Lâm Súc (Sàig̣n) :
Về lịch sử nông nghiệp, nền giáo dục
nông lâm chỉ bắt đầu xuất hiện trong thời
Pháp thuộc. Bên cạnh các pḥng, viện, cục nghiên cứu
và sản xuất, người Pháp đă thiết lập
các trường nông lâm để đào tạo chuyên viên phục
vụ nhà nước cai trị và các ngành khảo cứu
để tăng gia sản xuất trong nước .
Từ năm 1904, người Pháp đă mở ngành
đào tạo Thú Y tại Việt Nam để pḥng chống dịch bệnh
gia súc và thanh tra thú sản .
Năm 1906,trường Thú Y Hà Nội được
thành lập và được
xem như một ban của Trường Y Khoa Hà Nội. Nhiệm
vụ đào tạo bác sĩ Thú Y được giao cho
trường Y khoa này.
Đến năm 1910, ban Thú Y của trường Y khoa
Hà Nội và bệnh xá Thú Y được đổi thành trường Thú Y Bắc Kỳ
và được tách ra khỏi
trường Y Khoa Hà Nội .
Năm 1917, trường Thú Y Bắc Kỳ trở thành
trường Thú Y Đông Dương.
Năm 1918, trường Cao Đẳng Nông Lâm Hà Nội
được thành lập với
thời gian học 2 năm rưỡi và một khóa thực
hành 9 tháng tại các sở nông lâm hay các đồn điền
tư nhân.
Cùng năm 1918 này, trường Canh Nông Thực Hành Tuyên
Quang được thành lập
nhằm đào tạo
các nhà trồng trọt bản xứ hoặc phụ giúp các
chuyên viên Châu Âu .
Trong miền Nam , trường Nông Lâm Thực Hành Bến
Cát được thành lập từ 1917 có mục đích
như trường Canh Nông Thực
Hành Tuyên Quang, nhưng ít người theo học v́ khó t́m việc
làm. Năm 1926, trường Nông Lâm Thực Hành Bến
Cát được đổi
thành Trại Nông Nghiệp dành đào tạo những giám thị
canh tác ở đồn điền.
Do nghị
định ngày 15 tháng 8 năm 1938 của Toàn Quyền
Đông Dương, trường Chuyên Nghiệp Nông Lâm
Đông Dương (École Spécial d’Agriculture et de Sylviculture)
được thành lập tại Hà Nội .Trường
này là tiền thân của trường Nông Lâm Mục (sau là Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sàig̣n , Trung Tâm
Quốc Gia Nông Nghiệp ).
Năm 1954, hiệp định Genève được kư kết,
chia đôi nước Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17
làm ranh giới. Miền Bắc bị đặt dưới chế
độ cộng sản độc tài đảng trị, c̣n miền Nam
thuộc chính thể quốc gia tự do nhân bản.
Theo tài liệu [2] :
Sau năm 1954, trường Quốc gia Nông Lâm Mục
B’Lao, tiền thân của Đại học Nông Lâm được
thành lập tại miền Nam .
Do bởi Nghị Định
112 BCN/NĐ của Bộ Canh Nông-Việt Nam Cộng Ḥa,
ngày 19 tháng 11 năm 1955 ,Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục
Blao (Bảo Lộc) được thành lập tại tỉnh
Lâm Đồng- Miền Nam Việt Nam, trực thuộc Nha
Học Vụ Kỹ Thuật và Thực Hành Canh Nông, Bộ
Canh Nông.
Theo tài liệu [4] :
V́ đă được dự kiến từ năm 1950,
việc xây dựng trường Quốc Gia Nông Lâm Mục
Blao( (QGNLM Blao) được được khởi công
vào năm 1954 và đến ngày 12 tháng 11 năm 1955, trường này đă có thể
tiêp nhận khóa 1 gồm 60 sinh viên được trúng tuyển
qua kỳ thi tuyển 1.200 thí sinh.
Tuy nhiên theo tài
liệu [5] : Trường Quốc gia Nông Lâm Mục
B’Lao được thành lập từ một cơ sở
đă có sẵn. Vào năm 1930, Nha Khảo Cứu Đông
Dương thành lập tại làng Công Hinh một Trung Tâm Thực
Nghiệm. Đó là cơ sở đầu tiên của
người Pháp dùng để nghiên cứu, thử nghiệm
cây trồng, vật nuôi cho cả nước.
Sau hiệp định Genève 1954, Trung Tâm Thực Nghiệm
này được Bộ Canh Nông nâng cấp thành Trường
Quốc Gia Nông Lâm Mục, trực thuộc Bộ Cải
Cách Điền Địa và Canh Nông.
Theo tài liệu [2] : Trường
QGNLM Blao đào tạo ba ngành Canh Nông, Thủy
Lâm và Mục Súc (sau này mới thêm ngành Công Thôn) .
Huy hiệu của
trường Quốc gia Nông Lâm Mục – H́nh trích từ tài
liệu [6]
-Màu vàng bên trên huy hiệu
nói đến tinh anh quí phái truyền thống dân tộc
ta
-Màu xanh thiên thanh nền tượng trưng cho hy vọmg ;
-Nhành bông lúa tuộng trưng cho Canh Nông ;
-Cây thông tượng trưng cho Thủy Lâm ;
-Đầu trâu tượng trưng cho Mục Súc .
Các biểu
tượng trên như Bông lúa có Màu Vàng,Cây Thông Màu Xanh lá
cây,Đầu Trâu màu Đỏ các màu Vàng,Xanh,Đỏ
cũng thể hiện cho ba Ban Canh Nông,Thủy Lâm,Mục
Súc
Theo tài liệu [4] : Trường Quốc gia Nông Lâm Mục (QGNLM) Blao tọa lạc trên một
thửa đất ph́ nhiêu ước lượng khoảng
500 mẩu, trên quốc lộ 20, phía Tây Thị xă Bảo Lộc.
Chung quanh Trường là núi, rừng và các đồi chè
xanh, nên phong cảnh rất hữu t́nh. Trường
QGNLM nguyên thủy được biết dưới tên
Trường QGNLM Blao.
Vào năm 1958, sau
khi Thị xă Blao đổi tên
thành Bảo Lộc, Trường
QGNLM Blao có tên QGNLM Bảo Lộc.
Theo tài liệu [7] : Khi trường QGNLM Blao mới được thành lập , giáo
sư Bác sĩ Thú Y Đặng
Quan Điện cùng giáo sư, Bác sĩ Thú Y Vũ Ngọc
Tân, giáo sư Lê Văn Kư và giáo sư Bùi Huy Thục là “tứ
trụ” xây dựng trường lớp, cư xá, thư viện,
giảng đường, nông trại…. cho trường này.
Theo nghị định thành lập 112 BCN/NĐ, Trường
là một trường Cao Đẳng
cho các ngành canh nông, thủy lâm và mục súc và gồm có:
·
Cấp Trung Đẳng khởi sự từ năm
1955 ,đào tạo Kiểm Sự
dành cho học sinh có văn bằng
Trung Học Đệ Nhứt Cấp hoặc học lực
tương đương ;
·
Cấp Cao Đẳng từ năm 1959 với học
tŕnh 3 năm, nhưng kể từ 1963 và Khóa 5 về sau khóa
học trở nên 4 năm; nhằm đào tạo cấp bậc
Kỹ Sư dành cho học sinh có
văn bằng Tú Tài 2 và hoặc đă học xong Trung
đẳng.
·
Và những lớp theo mùa, không học kỳ
và hạn định.
Theo tài liệu [5] : Trong thời
gian từ năm 1955 đến 1963, trường QGNLM Blao
đào tạo 8 khóa kiểm sự và 4 khóa cao đẳng
đă cung cấp được gần 300 chuyên viên cho miền
Nam Việt Nam.
Ngày ấy các môn học, dù là giáo sư người Việt
vẫn sử dụng tiếng Pháp để giảng dạy,
mục đích luyện tập cho sinh viên kỹ năng nghe
nói để có thể thể tiếp cận với
văn minh thế giới. Hầu hết các giáo sư đều
xuất thân từ các trường đại học danh tiếng
của Pháp. Ngoài ra, c̣n có một giáo sư người Đức
Hoeninger dạy Lâm học, và một giáo sư người Hoa Kỳ tên Stevenson, dạy Kinh tế.
Các giáo sư tuy giảng dạy tại trường,
nhưng cũng làm chuyên môn của ḿnh. V́ vậy các thầy
cô không những am tường công việc mà c̣n rất nghiêm
khắc trong việc đào tạo nguồn nhân lực phẩm
chất (qualité) cao.
Khóa 1 cấp Trung Đẳng khai giảng ngày 12 tháng 12
năm 1955 trong một buổi lễ long trọng. Sau 3
năm học tập, Khóa 1 tốt nghiệp năm 1958 với
63 sinh viên được cấp văn bằng kiểm sự
3 ngành Canh Nông, Thủy Lâm và Mục Súc. Trường
QGNLM Blao đào tạo
được 8 khóa Trung Đẳng với gần 600
chuyên viên các ngành nông, lâm và súc.
Khóa Cao Đẳng đầu tiên của Trường QGNLM
Blao khai giảng trong niên học 1959 và đă bế giảng
vào ngày thứ bảy tuần lễ đầu tiên tháng 11
năm 1962 (tài liệu [3]) .
Theo tài liệu [1] : Sau đó,
trong ṿng dưới 20 năm, Trường Quốc Gia
Nông Lâm Mục Blao (Bảo Lộc ) đă
được cải tổ nhiều lần :
1- Cải tổ lần thứ nhứt : Nghị Định
số 286 BCN/NĐ/HC ngày 06 tháng 8 năm 1959 ấn định
tổ chức cấp Cao Đẳng với học kỳ
3 năm và gồm 3 ban Nông Khoa, Lâm Khoa và Súc Khoa.
Từ trái qua phải : Bác sĩ Vũ Ngọc Tân (người
thứ 3) - Giám đốc Trường QG Nông Lâm Mục BLao
(1955-1958) và giám đốc Trường Cao đẳng Nông Lâm
Súc Sàig̣n (1967-1968); Giáo sư Bùi Huy Thục (người thứ
4) - Giám đốc Trung tâm QG
Nông nghiệp (1968-1970); Giáo sư Đặng Quan Điện
(người thứ 5) - Giám đốc Trường Cao
đẳng Nông Lâm Súc Sài G̣n (1962-1964) (Ảnh chụp năm
1962, năm tốt nghiệp khóa 1 QG Nông Lâm Mục BLao
(1959-1962) - H́nh trích từ tài liệu [1]
Theo tài liệu [5] : Giáo sư,
Bác sĩ Vũ Ngọc Tân là vị giám đốc đầu
tiên của trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao. Ông tốt
nghiệp Trường Cao Đẳng Thú Y Alfort (Pháp). Sinh
viên Tân học giỏi và có trách nhiệm với công việc
nên được Giáo sư Patron của Trường
thương yêu đến nỗi gả con gái cưng cho
ông dẫn về nước. Từ những ngày chọn
đất, san lấp mặt bằng đặt viên đá
đầu tiên đến khai giảng, thầy Tân vừa
là nhân chứng vừa là người trong cuộc, ông đă
dành cả tuổi xuân của ḿnh để h́nh thành ngôi
trường giữa chốn rừng già.
Từ ngày đảm trách nhiệm vụ Giám đốc
Trường năm 1955, rồi
nhận chức vụ cao hơn cho đến lúc già yếu,
ông vẫn gắn bó từ xa với Trường. Thầy
mất tại Sàig̣n tháng 5 năm 1981.
Ông Dư Thành Nghiệp, một học sinh cũ 80 tuổi
của thầy đă viết: “Thầy Tân là người
gây ấn tượng rất lớn đối với cuộc
đời tôi. Đối với thầy việc giảng
dạy, không nhất thiết chỉ trên giảng đường.
Nhiều khi chúng tôi ngồi cạnh trại heo, trại ḅ
h́ hục ghi chép, thầy bảo: “Các anh chị không cần
ghi hết những lời tôi nói mà phải chú ư các sự kiện,
nắm vững cốt lơi vấn đề, ghi lại những
điều trọng yếu. Sau giờ học, tự soạn
lại sườn bài. Như vậy dễ nhớ và dễ
thực hành". Nghe lời thầy, tôi áp dụng thử,
lúc soạn lại bài có cực hơn đôi chút, nhưng rất
dễ nhớ. Khi đi thi, sinh viên nào viết dài ḍng th́
điểm kém, c̣n người nào chỉ viết 5, 10 câu
nhưng giải quyết được sự kiện
đúng chủ đề th́ điểm rất cao .
Ông Dư kể về người vợ Pháp của Thầy
(con của giáo sư Patron): “Số là hồi trước
tôi theo học chương tŕnh Pháp tại trường
Pétrus Kư, nên khi thi vấn đáp rất sợ giám khảo
người Pháp. Hôm ấy thi môn sử địa, gặp
bà đầm làm giám khảo, bà hơi gầy, mặt nghiêm
khắc làm tôi run quá, cứ lấp ló bên ngoài. Một lát sau,
bà ra trước cửa đứng chống nạnh nói bằng
tiếng Việt giọng Bắc: "C̣n anh chị nào
chưa thi th́ vào pḥng thi đi chứ" làm tôi ngạc
nhiên đến bất ngờ.
Khi vào thi gặp
đề không khó mấy, nhưng bị khớp nên trả
lời c̣n ngập ngừng. Thấy vậy bà gợi ư giúp
cho môn thi của tôi qua. Lúc lên trường B’Lao được
gặp lại bà, đó là phu nhân giáo sư Tân. Trong thời
gian ở trường, dù không có nhiệm vụ, bà cũng
chăm lo cho sinh viên, nhất là môn thực hành ngoài trang trại,
khi có sinh viên bị ốm ngất xỉu, bà mang túi y tế
ra tận hiện trường để săn sóc tận
t́nh như một người mẹ”.
2- Cải tổ lần thứ hai : Nghị định
1361/BCTNT/NĐ/HC-2 ngày 26 tháng 3 năm 1962 của Bộ Cải
Tiến Nông Thôn đă chuyển giao nhiệm vụ và cơ
sở Học Vụ Kỹ Thuật Canh Nông và các trường
trực thuộc về Bộ Quốc gia Giáo Dục (tài liệu
[1], [2] , [3] ) .
3- Cải tổ lần thứ ba : Năm 1963, Nghị Định số
1184 GD/HC ( 1184/GD/TC theo tài liệu
[1] [2] ) đổi tên cấp Cao Đẳng
Trường QGNLM Blao ra Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc
(CĐNLS) với học
kỳ 4 năm.
Cũng xin ghi thêm là do bởi Nghị Định số
1184/GD/TC năm 1963 , cấp Trung Đẳng của Trường
Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc được
đổi thành trường
Trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc.
Theo tài liệu [5] : Giáo
sư, Bác sĩ Thú Y Đặng Quan Điện,nguyên Giám
đốc Nha Học Vụ Nông Lâm Súc là người đổi
tên trường quốc gia Nông Lâm Mục B’Lao thành trường
Trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc . Xem thêm chi tiết về
cơ sở của Trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc
trong Phụ đề 1 .
Theo tài liệu [2] : Giáo sư Bác sĩ Thú Y Đặng Quan Điện là
người đă khai sinh ra ngành giáo dục trung học Nông
Lâm Súc (THNLS) kể từ năm 1963, từ đó các trường
THNLS trực thuộc Nha Học Vụ Nông Lâm Súc, Bộ Giáo
Dục.
Theo tài liệu [5] : Sau khi đào tạo được 5 khóa
cao đẳng tại Bảo Lộc, v́ lư do an ninh, Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Bảo Lộc
được dời về Sàig̣n tại địa điểm
đường Cường Để-quấn -Sài g̣n và đổi tên thành Trường
Cao đẳng Nông Lâm Súc Sàig̣n và do một Giám đốc
điều khiển, trực thuộc Nha Học vụ Nông
Lâm Súc.
Cũng theo nghị định này, kể từ niên học
1963-1964 thời hạn học tại Trường Cao Đẳng
Nông Lâm Súc Sàig̣n được
ấn định là 4 năm. Thi sinh phải có
bằng Tú Tài 2 ban A, B và phài qua kỳ thi
tuyển (tài liệu [3] ) .
Theo tài liệu [7] : Giáo sư, Bác sĩ Thú Y Đặng
Quan Điện làm giám đốc trường Cao Đẳng
Nông Lâm Súc Sàig̣n từ 1962-1964 (1963? – 1964) . Giáo
sư đă chủ tŕ soạn kế hoạch và
chương tŕnh đào tạo kỹ sư ngành Canh
Nông, Thủy Lâm và Súc khoa.
Giáo sư Đặng Quan
Điện giảng dạy các môn đào tạo kỹ
sư TYCN (Thủy Lâm Canh Nông?)
như Khí Hậu và Khí Tượng NN (Ngư Nghiệp)
, Kinh Tế Chăn Nuôi (1955-1963), Chăn Nuôi Đại
Cương, Dinh Dưỡng và Thức Ăn Gia Súc, Dục
Chủng Gia Súc (1963-1975), Chính Sách và Luật Lệ Chăn
Nuôi (1973-1975) .
Ngoài ra,từ tháng 01/1974 đến tháng 4/1975 , giáo sư Đặng Quan Điện làm phó Viện Đại Học
Bách Khoa Thủ Đức, Sàig̣n .
Giáo sư, Bác sĩ Thú Y Đặng
Quan Điện – H́nh trích từ tài liệu [7]
Đoạn văn dưới đây trích từ tài liệu
[1] viết bởi một cựu sinh viên Khóa 5
trường Cao Đẳng cho thấy những điều
kiện ăn học của
sinh viên trong những năm đầu ở trường Cao Đẳng
Nông Lâm Súc Sài g̣n
:
‘’ Mới hôm nào chúng tôi phải trải qua cuộc thi tuyển
khó khăn để được chọn vào học với
tỉ số 100 trên khoảng hơn 3.000 thí sinh tham dự.
Đến Khóa 5 (năm 1963 ) chúng tôi cũng c̣n nhiều
giáo sư Pháp dạy học,
như Ông Pouriquet dạy về Thảo mộc bệnh học,
Ông De Polinaire dạy về cây cao su, giáo sư Lamy dạy Cơ thể học
(Anatomy), giáo sư Maurand dạy
Thủy Lâm, giáo sư Perpezat,
nhiều giáo sư Roth ... Do
đó, từ năm 1961, Cấp Cao Đẳng được
di chuyển từ Blao về ở tạm tại Nha Học
Vụ Kỹ Thuật và Thực Hành Canh Nông nhưng các lớp học
được dạy ở nhiều địa điểm:
Đại Học Khoa Học, Trường Dược
Khoa, Viện Pasteur, Thảo Cầm Viên, Viện Khảo Cứu
Nông Nghiệp, Viện Vi Trùng và Bệnh Lư Gia Súc, v.v.
Khóa 5 của Trường Cao Đẳng NLS lúc ban đầu
gồm có 50 sinh viên ban Nông Khoa, 30 ban Súc Khoa và 20 ban Lâm Khoa;Họ
đến từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu
Long, Miền Đông và Miền Trung Việt Nam.
Khóa học khai giảng từ đầu mùa thu 1963 đến
giữa hè 1967 tại Sàig̣n, với cơ sở trường
lớp chưa được hoàn toàn ổn định.
Đến khi măn khóa, do thời cuộc chiến tranh, một
ít sinh viên rời Trường sớm hoặc ở lại
lớp nên chỉ có 85 người ra trường.
Năm học đầu tiên đă tạo nhiều ấn
tượng trong trí nhớ chúng tôi. Vào ngày khai giảng,
chúng tôi đến trường với tinh thần rất
phấn khởi để bắt đầu năm học
đầu tiên của khóa 5, niên học 1963-1964 nhưng rất ngỡ ngàng khi nh́n
thấy mái trường chỉ là một ngôi biệt thự
lớn có 2 tầng lầu và một dăy nhà trệt bên cạnh
nằm trên đường Mạc Đỉnh Chi, Quận
1-Sài g̣n. Đó là Nha Học Vụ Kỹ Thuật và Thực
Hành Canh Nông mà Bác Sĩ Đặng Quan Điện (mất
2008) làm Giám Đốc Nha kiêm nhiệm Giám Đốc Trường
Cao Đẳng.
Sau năm học thứ nhứt của Khóa 5, Trường
được chuyển đến Thành Cộng Ḥa cũ rộng
hai mẫu, số 45 đại lộ Cường Để
ở trung tâm Sài g̣n. Nơi đây có trường ốc 3 tầng
lầu khang trang hơn, với văn pḥng hành chánh, các lớp
học rộng răi, và có một khoảng không gian sân trường
rộng lớn . Trường c̣n có Cư Xá dành cho sinh viên ở
các tỉnh xa, Hợp Tác Xă Sinh Viên, và Quán Cơm Trưa Xă Hội
Sinh Viên rộng răi.
Trong khu Thành Cộng Ḥa, c̣n có sự hiện diện của
Đại Học Dược Khoa và Đại Học
Văn Khoa, nằm đối diện với Trường
Cao Đẳng NLS Sàig̣n. (Xem thêm chi tiết về Thành Cộng Ḥa trong Phụ đề
2 ).
Khóa 5 chúng tôi có bốn điểm nổi bật là :
(i)
Cấp Cao Đẳng Nông Lâm Mục tách ra
khỏi Trường Blao và đổi tên Trường Cao
Đẳng NLS Sàig̣n (24-8-1963);
(ii)
Chương tŕnh học bắt đầu
dạy bằng tiếng Việt, mặc dù c̣n ít môn học
bằng tiếng Pháp v́ thiếu giáo sư ;
(iii) Có học
tŕnh 4 năm đầu tiên (chỉ số lương 470),
thay v́ học 3 năm (chỉ số lương 430);
(iv)
Và học nguyên năm đầu tiên tại
Đại Học Khoa Học, Ban SPCN (Sciences,physiques, chimiques
et naturelles) có lẽ để tránh học nhiều nơi
như các khóa trước trong khi chờ đợi cơ sở
trường mới.
Năm học thứ nhứt, phần lớn thời
gian chúng tôi theo học lớp SPCN tại trường Đại
Học Khoa Học (đường Cộng Ḥa, quận
5-Sàig̣n ) . Ngoài ra, c̣n học thêm lớp Anh ngữ và vài môn học
nông nghiệp đại cương tại Nha Học Vụ
NLS. Đây là một ưu thế của khóa học 4
năm đầu tiên của Trường Cao Đẳng
NLS Sàig̣n, v́ lớp học SPCN đă cho sinh viên chúng tôi một
số căn bản khoa học vững chắc, hỗ trợ
rất nhiều cho các môn học chuyên ngành sau này và sau khi ra
trường. Lớp học này có độ 400 sinh viên, gồm
có 100 sinh viên NLS, và một số giáo sư nổi tiếng như
Phạm Hoàng Hộ (Thảo mộc học - Botany) , Bà Trần
Ngọc Tiếng (nhũ danh Dương Thị Mai) (Sinh lư thực vật), Chung Ngọc
Tú (Vật lư), Chu Phạm Ngọc Sơn (Hóa học), Phạm
Ngọc Thạch (Địa
chất) (Trần Kim Thạch th́ đúng hơn ? )… Chúng tôi
được cấp học bổng toàn phần 1.500 $
đồng/tháng và bán phần 750$ đồng/tháng .
(Phụ chú :
·
Các giáo sư kể trên là các vị giáo sư nổi tiếng giảng
dạy tại Phân khoa Khoa Học-Đại học Sài g̣n.
Xem thêm chi tiết về Phân khoa Khoa Học trong bài Viện Đại Học Sài g̣n và
các Phân khoa trực thuộc trước
năm 1975 của cùng tác giả) .
·
Theo tài liệu [8] : Số tiền học bổng mà
sinh viên Đại Học Sư Phạm - Viện Đại
Học Sài g̣n lảnh từ
khoảng năm 1960/1961 là 1.500 $ đồng/tháng và và đến
năm 1970 là 3.000 $ đồng/tháng . Như thế, sinh viên trường
Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sàig̣n và sinh viên Đại Học Sư Phạm
lảnh số tiền học
gần giống nhau . Các số tiền học bổng cấp này rất là hậu hỉnh bởi
v́ theo tài liệu [9] , vào khoảng
năm 1965, một công chức chính ngạch hạng A mới
tốt nghiệp đại học, lương căn bản
khoảng 6.700 đồng).
Sau 4 năm trên ghế nhà trường, thu nhận một
số kiến thức nghề nghiệp căn bản,
chúng tôi cảm thấy ḷng phơi phới cùng gia đ́nh, bạn
bè đến hội trường của công ty Sổ Số
Kiến Thiết Quốc Gia trên đại lộ Thống
Nhứt, đối diện Trường Cao Đẳng
Nông Lâm Súc Sài G̣n (NLS) để dự lễ tốt nghiệp
và nhận bằng cấp măn khóa cùng với 84 bạn đồng
môn khác. Lúc đó, trong bộ áo mũ măn khóa, chúng tôi xây dựng
nhiều giấc mơ lớn trong ḷng cho những ngày tháng
sắp tới... Bây giờ, đă có lắm kẻ gác kiếm
an hưởng tuổi điền viên, một số ít c̣n
vài năm làm việc và ít người ra đi không c̣n nữa.
Quay nh́n lại chặng đường đă qua, vài kỷ
niệm về mái trường NLS thân yêu của ḿnh lại
xuất hiện’’.
4- Cải tổ lần thứ tư : Theo nghị định 483/GD ngày
23 tháng 3 năm 1967, Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc trực
thuộc Bộ Giáo Dục.
(tài liệu [3 ).
Trung Tâm này (1968-72) do một
giám đốc điều khiển, có một phó giám đốc
phụ tá , gồm có ba trường: Cao Đẳng Nông Nghiệp,
Cao Đẳng Thú Y và Chăn Nuôi, và Cao Đẳng Thuỷ
Lâm. Mỗi trường do một
giám đốc điều khiền (Tài liệu [1] và [4] ) .
6- Cải tổ lần thứ sáu : Năm 1972, Trung Tâm Quốc
Gia Nông Nghiệp đổi tên là Học Viện Quốc Gia
Nông Nghiệp do Sắc Lệnh số 174 SL/GD ngày 29 tháng 11
năm 1972. Học Viện với 3 ngành nêu trên: trường
Cao Đẳng Nông Nghiệp, Cao Đẳng Thú Y và Cao Đẳng
Thủy Lâm , có nhiệm vụ huấn luyện, đào tạo
và tu nghiệp cho các chuyên viên và cán bộ nông nghiệp cấp
kỹ sư và các cấp cao hơn, sưu tầm, nghiên cứu,
phát minh, phổ biến các kiến thức, kỹ thuật
sản xuất và góp phần thiết lập các dự án nhằm
phát triển các lănh vực nông nghiệp (tài liệu
[1] và [3] ) .
7- Cải tổ lần thứ bảy :
Năm 1974, Học Viện Quốc Gia Nông
Nghiệp được xáp nhập vào Viện Đại
Học Bách Khoa Thủ Đức với tên mới là Đại
Học Nông Nghiệp do Sắc Lệnh số 10 SL/VHGDTN ngày
11 tháng 01 năm 1974.
Mặt khác theo tài liệu [3] : Theo sắc lệnh 010-SL-VH-GDTN ngày
11 tháng 01 năm 1975 (1974 th́ đúng hơn ?), Học Viện
Quốc Gia Nông Nghiệp (1972–1974), Học Viện Quốc
Gia Kỹ Thuật và Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ
Thuật được sát nhập vào Viện Đại Học
Bách Khoa Thủ Đức.
Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp được
đổi tên thành trường
Đại học Nông Nghiệp-Viện Đại Học
Bách Khoa Thủ Đức năm 1974 gồm 5 ngành: Nông khoa,
Lâm khoa, Súc khoa, Ngư nghiệp và Kỹ thuật nông nghiệp.
Sau năm 1975, Đại Học Nông Nghiệp bị ngụy
quyền cộng sản đổi tên Đại Học
Nông Nghiệp IV, rồi Đại Học Nông Lâm Thành Phố
HCM (Sic) thuộc Bộ Giáo Dục và Đào Tạo.
Theo tài liệu [4] : Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục
QGNLM (Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Bảo Lộc + Trung Tâm Quốc
Gia Nông Nghiệp + Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp + Đại Học Nông Nghiệp
Sàig̣n) đào tạo được tổng cộng 16 khóa
cao đẳng với trên dưới 2000 kỹ sư các
ngành nông, lâm và súc. Khóa 16 nhập học năm 1974 và tốt
nghiệp năm 1980.
Một số sinh viên
chuẩn bị đi thực tập 1966 - H́nh trích
từ tài liệu [3]
Chứng chỉ
tốt nghiệp Kỹ Sư Nông Khoa-trường Cao
Đẳng Nông Lâm Súc 1969 - H́nh trích từ
tài liệu [3]
Chứng chỉ tốt
nghiệp bằng Kỹ Sư Súc Khoa
-trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc 1969 - H́nh trích
từ tài liệu [3]
Chứng chỉ
tốt nghiệp Kỷ Sư Thủy Lâm-Hoc viện
Quốc Gia Nông Nghiệp 1974 - H́nh trích từ tài liệu [3]
Phụ
đề 1 : Cơ sở của trường
Nông Lâm Súc Bảo Lộc
Theo tài liệu [4] : Trường
Quốc Gia Nông Lâm Mục ( QGNLM)
được thành lập ngày 19 tháng 11 năm 1955 do Nghị
Định số 112-BCN/NĐ của Bộ Canh Nông . Trường
QGNLM nguyên thủy được biết dưới tên
Trường QGNLM Blao. Năm 1958, khi Thị xă Blao đổi
tên là Bảo Lộc, Trường mới có tên Bảo Lộc.
Trường tọa lạc trên một thửa đất
ph́ nhiêu ước lượng khoảng 500 mẩu,
trên quốc lộ 20, phía Tây Thị xă Bảo Lộc .
Do bởi Nghị
Định số 1184/GD/TC năm 1963 , cấp Trung đẳng
của Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc
được đổi
thành trường Trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc.
Trường tiếp tục đào tạo chuyên viên cấp
trung đẳng từ năm 1963 cho đến năm 1975.
Theo tài liệu [2] và [6] : Trường
được đặt tại vị trí của
Trung Tâm Thực Nghiệm Nông Học rộng khoảng 1.000
mẫu. Trung Tâm này được thành lập tại làng Công Hinh từ năm
1930 bởi Nha Khảo Cứu Đông Dương để nghiên cứu, thử nghiệm
cây trồng, vật nuôi cho cả nước.
Theo tài liệu [5] : Vào thời điểm đó, tại vùng
hạ B’Lao vẫn c̣n là rừng nguyên sinh. Sáng sớm và chiều
tà, sương mù phủ lên trắng xóa ôm cả cánh rừng
hoang. Diện tích trường tính các khu trà, cà phê, vườn
cỏ, vườn ươm, rừng sưu tập và khu
công sở rộng đến 200 mẫu. Nhưng nếu
tính cả khu rừng để sinh viên thực tập th́ tổng
diện tích gần 600 mẫu.
(Phụ chú : Diện
tích 500 mẩu hay 1000
mẫu hay 200 mẫu hay 600 mẫu cần phải
xác định lại ) .
Trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc - H́nh trích từ
tài liệu [4]
Việc chọn Blao như là một trung tâm giáo dục
chính về nông nghiệp có điểm bất thuận là
Blao cách xa Sàig̣n 184 cây số, nhưng điểm bất thuận
trên đă được đền bù lại bằng nhiều
điểm thuận lợi như là khí hậu thích hợp
cho việc lao động và học tập, có sẳn một
diện tích khá rộng thuận lợi nhiều cho việc
mở rộng không giới hạn, một vùng đất
có nhiều tiềm năng cho cả 3 môn học : trồng
trọt, chăn nuôi, và lâm nghiệp ứng dụng đồng
đều và hoà hợp .
Việc xây dựng trường :
Toàn thể nhà cửa chiếm trọn vùng đất của
địa điểm nghiên cứu nông nghiệp cũ
đă bị bỏ hoang và tràn ngập những bụi rậm
có nhiều rắn và hổ và để có thể tiến
hành tốt việc xây cất trường, người ta
đă phải vượt qua
nhiều khó khăn trở ngại và san bằng mọi
vật chướng ngại đủ các loại.
Giải quyết lao động là một vấn đề
tiên quyết, nhưng may thay làn sóng người di cư
đổ về đây giúp việc giải quyết thỏa
đáng vấn đề trên. Dể hiểu thôi, nhà cửa
lúc ban đầu chỉ toàn bằng gỗ. Tại Blao lúc
đó chưa có nước chảy và điện lực.
Đến năm 1956, kinh phí cho việc xây cất nhà cửa
bằng gạch đă được duyệt, nhưng
trường c̣n phải chờ đến đầu
năm 1957 mới có thể xây dựng những công tŕnh xây
dựng lớn.
Và đầu năm 1958, đă có ba dăy nhà giảng dạy
gồm 8 pḥng, 1 dăy nhà hành chánh, 17 nhà cho giáo sư, 4 pḥng ngủ
gồm 90 giường, 1 nhà bếp lớn, 1 tháp nước
chảy có dung tích 630 thước khối với kinh phí tổng cộng là 20 triệu
đồng (giá trị vào thập niên 1960). Nước và
điện đă được lấp đặt và c̣n
được cung cấp một số lớn trang thiết
bị làm ruộng gồm có 6 máy kéo, 4 máy xới …
Theo tài liệu [5] : Trường có nhà máy phát điện, máy
nước, sân vận động, đài khí tượng,
vơ đường. Trong khuôn viên trường có đại
thính đường, kư túc xá sinh viên, thấp thoáng trong các
cây sao, cây muồng, là những biệt thự xinh xắn
dành cho giáo sư.
Sau cùng, từ năm 1958 trở đi trường tiếp
nhận thêm những trang thiết bị khoa học dành cho
pḥng thí nghiệm và thực hành ngoài đồng, những dụng
cụ nghe nh́n và nhiều loại sách mới (3000 quyển)
.
Ngoài ra trường c̣n kiểm soát và bảo tŕ 10 mẫu
(?) đường ṃn rừng và 30 mẫu đồng cỏ chăn nuôi, 20 mẫu
cỏ thảm và vườn
ươm 2 mẫu , vườn rau 2 mẫu. vườn
cây ăn quả 2 mẫu , vườn trà 6 mẫu , cà phê 1 mẫu
và đám súc vật gồm có
ngựa 6 con, ḅ sữa 15 con, heo, gà vịt và thỏ.
Những
người phục vụ cho trường Nông Lâm Súc Bảo
Lộc, như thầy cô giáo và nhân viên từ năm 1963
đến 1975 được viết rất đầy
đủ và thú vị trong tài liệu [10] .
Hội quán NLS ,nơi
học sinh hay ra ăn uống tâm sự vui vẻ trong những
giờ ra chơi,thực hành nông trại…- H́nh trích từ
tài liệu [11]
Dăy trường mặt
trước,nơi đây có đặt cái kẻng thân quen
đánh khi giờ ra chơi,tan trường...- H́nh trích
từ tài liệu [11]
Phía sau trường,ngày ấy có khu nông trại và một
sân banh - H́nh trích từ tài liệu [11]
Phụ đề 2 : Sau đây là vài hàng sơ lược
về Thành Cộng Ḥa
Theo tài liệu [12] : Năm 1835, sau khi dẹp xong loạn Lê Văn Khôi,
vua Minh Mạng hạ lệnh phá hủy toàn bộ thành Phiên
An (Quy Thành của vua Gia
Long xây cất năm 1790). Năm sau, 1836, vua Minh Mạng cho xây một thành
khác nhỏ hơn phía đông bắc thành cũ, gọi
là "Thành Phụng",
tức thành Gia Định.
Ngày 17 tháng 2 năm 1859, quân Pháp đă mở các
cuộc tấn công Thành
Phụng. Sau khi lấy được Thành Phụng, Pháp
gọi Thành này là ‘’Citadelle de Saigon’’. (Xem thêm chi
tiết trong hai bài Nghĩa
địa ở Sàig̣n - Gia Định trước
năm 1975- Ancien Cimetière và Nghĩa trang Mạc
Đĩnh Chi (Cimetière Européen của cùng tác giả).
Sau khi triệt hạ thành “Citadelle de Saigon”,
binh lính Pháp dùng sắt và vôi gạch xây thành lính “Sơn
đá” của họ, tục danh “Thành 11è R.I.C” (Caserne du
Onzième Régiment de l’Infanterie Coloniale - Trại Bộ Binh Thuộc
địa đội thứ 11.Trại này nằm gần đúng vị trí Citadelle de
Saigon. (Thành này xây xong năm 1873 có tên là Martin des
Pallières,tên một tướng Pháp).
Theo tài liệu [13] : Doanh trại quân sự này được
Pháp cho xây kiên cố bằng bê-tông cốt thép từ năm
1870 theo phong cách kiến trúc pháo đài pḥng thủ.
Caserne du
Onzième Régiment de l’Infanterie Coloniale năm 1911
Theo tài liệu [14] : Sang thời Đệ Nhất Cộng
Ḥa, Thành 11è R.I.C được
đổi thành “Thành Cộng Ḥa”, do Lữ đoàn pḥng vệ
tổng thống phủ trấn giữ. Sau cuộc đảo
chính ngày 1/11/1963, Thành Cộng Ḥa th́ bị dẹp
bỏ.
Thành Cộng Ḥa năm 1963
Thành Cộng Ḥa năm
1964-H́nh George Maccianti
Sau
đó ,khu vực thành Cộng Ḥa được
giao cho Bộ Giáo Dục để thiết lập một
khu Đại học (mà sau này là
Đại học Văn Khoa và Dược Khoa). Trên
khu vực này, về sau c̣n thành lập thêm cơ sở của
Cao đẳng Nông Lâm Súc và Đài truyền h́nh. Một con
đường được mở xuyên qua thành Cộng
Ḥa cũ, nối thông đường Đinh Tiên Hoàng và
đại lộ Cường Để (tài liệu [15] ).
Khu vực góc đường
Cường Để và đại lộ Thống Nhất,
gồm 2 trường thuộc
viện đại học Sàig̣n : Văn Khoa và
Dược Khoa và trường
Cao Đẳng Nông Lâm Súc trước năm 1975-Photo :
gettyimages- H́nh trích từ tài liệu [16]
Đại học
Văn khoa và Đại học Dược nằm
đối diện nhau ở ngă tư Cường Để
- Thống Nhất. Kế
cận trường Dược là
trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc gồm
cả hai tòa nhà bị cắt ngang bởi
đường Đinh Tiên Hoàng. Xem thêm chi tiết về Đại học Văn khoa và Đại học
Dược khoa trong bài
Viện Đại Học Sài g̣n và các Phân khoa trực
thuộc trước năm 1975 của
cùng tác giả) .
Tài liệu
tham khảo :
1.
https://nonglamsuctayninh.com/hinh-anh/347-nhung-thang-ngay-voi-truong-cd-nong-lam-suc-sai-gon.html Những
Tháng Ngày với Trường
CĐ Nông Lâm Súc Sàig̣n - Viết
bởi Trần Văn Đạt -07/06/ 2011.
2.
file:///C:/Users/tuymai/Documents/Tuy%20Documents/Cao%20Dang-TAI%20LIEU/LHTVu_LS_TruongNongLamSuc.pdf Về hệ
thống giáo dục Nông Lâm Súc và trường Trung học
Nông Lâm Súc Pleiku - PK: Lê Hoàng Thụy Vũ .
3.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên
Mai Trần - Chứng chỉ và văn bằng
tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975 -
Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp .
4.
https://nonglamsuctayninh.com/hinh-anh/335-lich-su-truong-quoc-gia-nong-lam-muc.html Lịch sử Trường
Quốc Gia Nông Lâm Mục .
5.
https://cand.com.vn/Phong-su-Tieu-diem/Rung-rung-ve-tham-lai-ngoi-truong-600-mau-i351947/ Rưng
rưng về thăm lại ngôi trường 600 mẫu
- 21/05/2015.
6.
https://nonglamsuctayninh.com/hinh-anh/298-cai-huy-hieu.html Cái Huy Hiệu-Tháng 3
2011- Viết bởi Bùi Tho .
7.
https://nls.hcmuaf.edu.vn/contents.php?ids=23985&ur=nls&lng= Thầy
Đặng Quan Điện – Nhà Giáo Dục Nông Nghiệp Miền
Nam .
8.
https://daihocsuphamsaigon.org/index.php/vainetvetruong Cựu
sinh viên ĐHSP Sàig̣n-Vài nét về trường ĐHSP
Sàig̣n-Phạm Thị Nhung, ban Việt Hán - ĐHSPSG, khóa
1958-1961 bổ túc.
9.
Tieng Dan- Đôi điều
về lương bổng, phụ cấp của quân
nhân-công chức miền Nam trước tháng 4.1975 (Phần
1)-Bởi AdminTD-Lê Nguyễn
27/10/2022.
10.
https://nlsbaoloc.info/index.php/c-san-nlsbl-2008-mainmenu-129/truyn-ngn-mainmenu-165/972-hi-tng-v-nhan-vien-trng-nong-lam-suc-bo-lc-1963-1975-trng-t Hồi
Tưởng Về Nhân Viên Trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc
(1963-1975) - Trường Từ - Trích Đặc San 2008 .
11.
https://nonglamsuctayninh.com/hinh-anh/218-mot-so-hinh-anh-truong-xua.html Một số h́nh ảnh trường xưa 08 Tháng 2
2011.
12.
Vương Hồng
Sển-Sài g̣n năm xưa-Sống Mới-1968.
13.
https://vnexpress.net/truong-dai-hoc-duoc-hinh-thanh-tu-thoi-phap-o-sai-gon-3636593.html VN Express-Trường đại học
được h́nh thành từ thời Pháp ở Sài
G̣n-15/12/2024-Mạnh Tùng .
14. https://plo.vn/van-khoa-ngay-ay-bay-gio-post453252.html Văn
khoa ngày ấy, bây giờ... Nguyên Kha.
15.
Bách khoa toàn thư-Thành Cộng Ḥa.
16.
https://www.gio-o.com/NgoBac/TrietVanHoaSaigon.htm Ngô Bắc-Theo
học ban Triết tại Đại học Văn Khoa
Sàig̣n trước năm 1975-Tản mạn.
06- Trường Cao Đẳng Hàng Hải - Đường Nguyễn
Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri
Phương,Quận 10-Sàig̣n
Trường Hàng Hải vào
năm 1957 được đổi tên
thành “Trường Việt Nam Hàng Hải ” và
được sát nhập vào Trung Tâm Quốc Gia Kỹ
Thuật - Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Ḥa.Trường
nằm trong khuôn viên của
Trung Tâm này ở khu Phú Thọ , đường Nguyễn
Văn Thoại và đường
Tô Hiến Thành,thuộc phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n.
Từ năm 1973, Trường Hàng Hải mới chính thức
thuộc cấp Cao Đẳng.
Sau đây là lược sử thành lập Trường
Cao Đẳng Hàng Hải theo tài liệu [1,2] :
Theo tài liệu [1] : Tiền thân của trường
Hàng Hải có danh xưng là École des Mécaniciens Asiatiques
đưọc thành lập do nghị định ngày
20-2-1940 của Thống Đốc Nam Kỳ Rodier.
Mặt khác theo tài liệu [2] : Khoảng
năm 1942, danh xưng đầu tiên của trường
Hàng Hải là École des Mécaniciens Asiatiques được thành lập
chiếu theo nghị định ngày 20-2-1940 của Thống
Đốc Nam Kỳ Rodier.
Mục đích của trường nhằm đào tạo
các Sĩ quan Hàng Hải gồm các Ban Chỉ huy (Section pont),
Cơ khí (Section machine) và Vô tuyến (Section radio) để
phục vụ trên các chiến hạm Pháp ở Đông
Dương. Một ông Sĩ quan Hàng Hải có cả ba bằng
gồm các ngành trên đó là niên trưởng Trần Văn
Chơn cựu Đề Đốc Tư Lệnh Hải
Quân Việt Nam Cộng Ḥa.
Có một số
sinh viên cam kết sẽ phục vụ trong một thời
gian qui định trên các chiến hạm Pháp hoặc trong
các cơ sở thuộc Hải Quân Pháp như Ba Son, v…v… sau
khi tốt nghiệp. Ngoài ra có nhiều người sẽ
thành những kỹ thuật gia phục vụ trong các ngành
kỹ nghệ, công nghệ và xí nghiệp Pháp tại
Đông Dương.
Nghe nói anh
Nguyễn Văn Hóa là một trong những sĩ quan đầu
tiên của ngành Hàng Hải.Anh đi theo kháng chiến và ở
ng̣ai Bắc cho đến năm 1975. Anh là một chiến
sĩ tham gia trận đánh Sông Lô trong thời kháng chiến
chống Pháp.Năm 1955, anh Hóa dẫn chiếc tàu đầu
tiên vào cảng Hải Pḥng cách nay đă hơn 50 năm.
Đến năm 1975, anh Hóa về day Trường huấn
luyện về hàng hải cho các thủy thủ ở
Sàig̣n. Anh hiện nay đă ngoài 90 tuổi.
Trường
École des Mécaniciens Asiatiques lúc bấy giờ tọa lạc tại
đường Đỗ Hữu Vị, khu Chợ Củ-
Sàig̣n. Vị Giám Đốc sáng lập trường là
Emmanuel Rosel, một Kỷ sư Công nghệ cũng là Đại
úy Hải Quân Pháp. Có một lúc trường mang tên là École
Rosel.
(Phụ
chú : Theo tài liệu [3] :
Trường École des Mécaniciens Asiatiques được thành lập vào
tháng 2 năm 1906 bởi ông Emmanuel Rosel. Ngay sau đó , ông
Rosel được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng
đầu tiên của trường. (Sơ lược tiểu
sử Rosel được tŕnh bày trong Phụ Đề 1).
Trường này sang thời Việt Nam Cộng Ḥa trở
thành Trường
trung học kỹ thuật Cao
Thắng,
đường Đỗ Hữu Vị thành đường
Huỳnh Thúc Kháng,quận 1
. Xem thêm chi tiết trong bài Trường
trung học ở Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia Định
trước năm 1975 - Trường
kỹ thuật Cao
Thắng của cùng tác giả).
Năm 1942, trong Đệ nhị Thế chiến, Nhựt
Bổn chiếm đóng tất cả các trường học
ở Sàig̣n làm trại lính, trường được dời
vô Ba Son (thời Việt Nam Cộng Ḥa là Hải Quân Công
Xưởng).
Các sinh viên được học trên hai chiếc tàu, một
chiếc là Administrateur Royer dành cho học viên Ban Chỉ huy.
Khóa này gồm có 8 học viên là các anh Phan Văn Dy, Từ
Huy Hoàn, Lê Văn Tốt, Lê Bích Hà, v.v…
C̣n một chiếc tàu khác dùng vào việc huấn luyện
các tài công (Patron de chaloupe).Lúc bấy
giờ anh Lê Văn Tỷ cựu Hoa tiêu Sông Cửu
Long, dạy về Thủy thủ công (Matelotage).
Đến năm 1943, trường trở về tọa
lạc trên đường Đỗ Hữu Vị, Chợ
Củ- Saigon lấy tên là Collège Technique (Trường Kỹ
Thuật hay nôm na là Trường máy) .
Theo niên trưởng Nguyễn Chánh Trực, cựu Hoa
tiêu sông Sàig̣n, khóa Hàng Hải 1943-1944 gồm có các anh Nguyễn
Chánh Trực, Trần Đức Lưu, Nguyễn Văn
Liêm, Châu Văn Mùi, Cao Thái Phó, Reboul, v.v… Các niên trưởng
xuất thân từ các khóa kể trên họp thành một thế
hệ Sỉ quan Hàng Hải thương thuyền, thuyền
trưởng và cơ khí trưởng lăo thành chỉ huy các
con tàu đầu tiên, tiếp thu các đoàn hoa tiêu từ tay
người Pháp và có mặt trên các thương cảng, bến
nước từ Bắc chí Nam.
Sau Đệ nhị Thế chiến, trường Kỷ
Thuật Collège Technique họat động b́nh thường
trở lại. Mỗi khóa đào tạo lối 20 Sỉ
quan Ban Chỉ huy (Pont) và 20 Sỉ quan cơ khí (Machine).
Năm 1947 – 1948 :
Theo các niên trưởng Lâm Nguơn Tánh, cựu Đề
Đốc Tư Lệnh Hải Quân, Niên trưởng Đỗ
Bá Ngữ cựu Hoa tiêu Sông Sàig̣n, Trường vẫn có tên
là Trường Kỹ thuật, tọa lạc ở
đường Đổ Hữu Vị, khu Chợ Cũ-
Sàig̣n.
Khóa 1947-1948 gồm có các anh Tôn Thọ Khương,
Đ̣an Luyện, Nguyễn Văn Danh, Đào Quan Ngăi, Tôn Thất
tuyên, Chung Tấn Cang, Trần Văn Chơn, Lâm Nguơn
Tánh, Trần Văn Phấn, Lê Quang Mỹ, Hồ Đắc
Tâm, Đỗ Bá Ngữ, Lê Xuân Long, Vơ Bá Nhu, Đ̣an Ngọc
Bích, Nguyễn Văn Lịch, Nguyễn Hùng Trương,
Nguyễn Văn Thiệu, v.v… Có tất cả 20 sinh viên ban
Chỉ huy và 20 sinh viên ban Cơ khí.
Một số người tốt nghiệp khóa nầy
(Chung Tấn Cang, Trần Văn Chơn, Lâm Nguơn Tánh), về
sau trở thành các vị Tư Lệnh và những sĩ quan cao cấp chỉ
huy các lực lượng trong
Quân Chủng Hải Quân hoặc tiếp thu lại các
Đoàn Hoa Tiêu từ những chuyên viên người Pháp.
Đặc biệt là ông Nguyễn Văn Thiệu là một
Tướng lănh của Quân đội và cũng là vị Tổng
Thống của Đệ Nhị Cộng Ḥa Việt Nam.
Tổng Thống
Nguyễn văn Thiệu – Cựu Sinh Viên Trường VN
Hàng Hải - H́nh trích từ tài liệu [2]
Tổng Thống
Nguyễn văn Thiệu
Năm 1948 –
1949 :
Theo niên
trưởng Lương Quang Thọ cựu Hoa tiêu sông
Sàig̣n, Trường Hàng Hải Việt Nam nằm trong khuôn
viên trường Petrus Trương Vĩnh Kư.
Khoá này gồm
có các anh Lương Quang Thọ, Chế Công Tá, Nguyễn
Văn Nghiêm, Huỳnh Trịnh Tường, v.v… Tổng giám
thị lúc bấy giờ là Ông Bùi Quang Khánh, giáo sư Thiên
văn hàng hải là ông Patron, giáo sư Hải hành là ông Apex
và giáo sư Luật hàng hải là ông Corbin.
Năm
1949-1950 :
Theo niên
trưởng Ḥang Phước Qủa cựu Hoa tiêu Sông
Sàig̣n, Trường Hàng Hải vẫn c̣n trong khuôn viên
trường Petrus Kư. Khoá nầy gồm có các anh Hoàng Phước
Quả, Tô Ngọc Tuấn, Huỳnh Minh Tuấn, Mai Hữu
Lễ, Tôn Thất Ấn, Nguyễn Đôn Thỏa, Hồ Tấn
Quyền cựu Tư Lênh Hải quân thời Đệ Nhất
Cộng Ḥa.
(Phụ
chú : Ông Hồ Tấn Quyền tốt nghiệp sĩ
quan Thuyền trưởng Hàng Hải tháng 12 năm 1948, phục
vụ ở ngành này cho đến khi gia nhập quân đội.Ông
mang cấp bậc Đại tá Hải quân và là vị Tư lệnh
thứ ba của Quân chủng Hải Quân từ tháng 8
năm 1959 cho đến khi bị sát hại vào ngày 1 tháng 11
năm 1963) .
Từ
năm 1947 đến năm 1950, trường đă đào
tạo một số lớn chuyên viên kỹ thuật ngành
hàng hải được huấn luyện trên các
thương thuyền Pháp. Họ học hỏi thu thập
đủ kinh nghiệm về nghề nghiệp để
gánh trách nhiệm chỉ huy các tàu buôn mang cờ Việt Nam
Cộng Ḥa sau nầy.
Năm
1950-1951 :
Đến
năm 1950, do nghị định 155-CAB/SG ngày 27-12-1948,
trường Hàng Hải được giao lại cho chính
phủ Việt Nam. Trường được chính thức
thành lập với danh xưng “Việt Nam Hàng Hải Học
Liệu”. (École de Navigation Maritime Vietnamienne).
Trong những
năm 1950-1951,tuy nhiên không hiểu v́ lư do ǵ, trường
được chuyển đến khu Hỏa xa Việt
Nam, đường Colonel Grimaud tức Phạm Ngũ Lăo về
sau.
Khóa 1950-1951
được gọi là khóa 1 Hàng Hải Việt Nam. Khóa nầy
gồm có các anh Trương Văn Tây, Bữu Hạnh,
Lưu Văn Quăng, Vơ Thành Tuấn, Phạm Bá Vân, Nguyễn
Văn Thu, Đỗ Quư Hợp, Hà Văn Kim, Phùng Văn
Đán, anh Tích, v.v…Bên cơ khí có anh Đặng
Cần Chánh cựu Đại tá Hải quân.
Năm
1951-1952
Đây là
khóa 2 Hàng Hải Việt Nam cũng
học nơi đây (khu Hỏa xa Việt Nam).
Trong nữa
năm đầu, trường vẫn c̣n tọa lạc
trong một căn pḥng của cơ sở Hỏa xa Việt
Nam và trong nữa năm sau trường được chuyễn
về địa điễm củ trong khuôn viên trường
Petrus Trương Vĩnh Kư bên cạnh các trường Công
Chánh, Vô Tuyến Điện, v.v… với danh xưng là Hàng Hải
Học Liệu.
Trường
Hàng Hải là một gian nhà bốn pḥng đâu lưng ra
đường Thành Thái, cửa chính của gian nhà có để
bảng Việt Nam Hàng Hải Học Liệu “École de
Navigation Maritime Vietnamienne”.
Pḥng thứ
nhất là pḥng Giám thị, pḥng thứ nh́ là pḥng học của
Ban Chỉ huy, pḥng thứ ba là pḥng học của Ban Cơ
kh́ và pḥng thứ tư dùng vào việc linh tinh.
Khóa 2 Hàng Hải
gồm có các anh Phạm Ngọc Lũy, Tạ Cảnh Hi,
Nguyễn Phong, Bùi Ngọc Hương, Nguyễn Nhơn
Đức, Khương Hữu Bá, Lê Trung Hiếu, Nguyễn
Đ́nh Quảng, Đinh Mạnh Hùng, Phùng Nhật Tân, Nguyễn
Ngọc Trụ, Nguyễn Đ́nh Vượng, Ngô Khắc
Luân, Nghiêm Văn Phú, Nguyễn Thành Châu, Trương Ngọc
Lực, Nguyễn Năng Thông, Huỳnh Kim Gia, Nguyễn Hồng
Báu, v.v…
(Phụ chú
: Vài ḍng về ông Phạm Ngọc Lũy
Theo tài liệu
[4] : Được biết ngày 30/4/1975, Thuyền Trưởng Phạm Ngọc
Lũy đă lèo lái
con tàu Trường Xuân với gần 4,000 thuyền nhân ra
khơi rồi sau đó được một chiếc tàu
của Đan Mạch chở sang Hồng Kông trước
khi con tàu Trường Xuân bị ch́m.
Cựu Thuyền trưởng
Phạm Ngọc Lũy năm 1975 - H́nh trích từ tài liệu [5]
Theo tài liệu [6] : Ông là ân nhân của hàng ngàn
người, qua đời
ngày 21 tháng 12 năm 2022 ở tiểu tiểu bang
Virgina-Hoa Kỳ thọ 103 tuổi.
Phần đông các sinh viên tốt nghiệp khóa 2 gia nhập
khóa 2, 3, 7 Hải quân. Có ba anh được thăng cấp
Phó Đề Đốc c̣n đa số là sỉ quan cấp
tá Chỉ huy trưởng các lực lượng của
quân chủng Hải quân.
Trong khóa nầy ông Bùi Quang Khánh vừa là Tổng giám thị
vừa là Giáo sư Kỹ nghệ họa cho ban Cơ khí.
Ông Trần Văn Bạch vừa là Hiệu trưởng vừa
là Giáo sư Tóan cho ban Chỉ huy. Giáo sư Patron dạy về
Thiên văn Hàng hải (Astronomie nautique), Hải hành
(Navigation), Hải đồ và Hải cụ (Cartes marines et
instruments Nautiques). Kỷ sư Giraud dạy Kỹ thuật
Hàng hải (Technologie navale). Giáo sư Moreuil dạy về
Pḥng tai (Sécurité navale). Ông Blachère dạy về vận chuyển
tàu buồm va thuỷ thủ công (Bateaux à voiles et Matelotage).
Ông Corbin Giám đốc sở Đăng kư Hàng Hải
(Administrateur de l’inscription maritime) dạy về luật Hàng Hải
(Législation Maritime). Giáo sư Phương từ trường
Petrus Kư biệt phái qua dạy Toán học, một Đại
uư Y sĩ Hải quân dạy về Y tế Hàng hải
(Hygiène Navale).
Theo tài liệu
[7] : Trường Việt
Nam Hàng hải được thành lập năm 1951,
chương tŕnh 8 tháng đào tạo thuyền viên hàng hải.
Năm
1952-1953 :
Khóa này
gọi là khóa 3 Hàng Hải gồm có các anh Nguyễn Văn
Phước, Nguyễn Văn Liêm, Trần B́nh Sang, Nguyễn
Văn Thông, Nguyễn Văn Huấn, Lê Thanh Truyền,
Vũ Đ́nh Đào, Lộ Công Dần, Diệp Quang Thủy,
v.v… Cũng như khóa trước cũng có một số
sinh viên tốt nghiệp khóa này gia nhập khóa 3 Hải quân.
Từ
năm 1952 đến năm 1957, trường được
dời về khuôn viên Trường Trung học Pétrus
Trương Vĩnh Kư nằm dọc theo Đại lộ
Thành Thái gần các trường Đại Học Sư Phạm,
Công Chánh và Điện.
Theo tài liệu
[2] : Đến
năm 1957, trường được sát nhập vào Khu
Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ cùng các trường Cao
Đẳng Điện Học, Công Nghệ, Hóa Học, Công
Chánh, Thương Mại, v…v… tọa lạc trên đường
Nguyễn Văn Thoại, đối diện với Cư
Xá Lữ Gia ở Phú Thọ. Trường vẫn tiếp tục
đào tạo Sĩ quan Hàng hải đến khóa 22.
Và do sắc
lệnh số 213 GD ngày 26-9-1957, trường đă đổi
danh hiệu là “Trường Việt Nam Hàng Hải” cho đến
năm 1975.
Sáng Lập
Viên và Giám Đốc Trường Việt Nam Hàng Hải do
ông Trần Văn Bạch, Kỹ Sư Kiều Lộ sáng lập.
Kỹ Sư Bạch là nguyên Tổng Trưởng Bộ
Công Chánh và là Cựu Giám Đốc Trường Việt Nam
Hàng Hải. (Xem thêm chi tiết trong Phụ đề
2) .
Trường
Hàng Hải - Năm chưa xác định - H́nh trích từ tài liệu [1]
Cổng
trường Việt Nam Hàng Hải - (cùng chung ṭa nhà với trường
Kỹ Sư Công Nghệ) - Năm chưa xác định -
H́nh trích từ tài liệu [2]
Cổng
trường Việt Nam Hàng Hải (cùng chung ṭa nhà
với trường Kỹ Sư Công Nghệ) - Năm chưa xác định - H́nh trích từ tài liệu [8]
Huy hiệu
trường Việt Nam Hàng Hải - H́nh trích từ tài liệu [2,8]
Sau đây là
danh sách các vị đă từng giữ chức vụ Giám
Đốc của trường Việt Nam Hàng Hải từ
năm 1950 đến năm 1975 : Kỷ Sư Trần
Văn Bạch, Ông Lê Hữu Kỳ , Ông Đặng Văn
Châu, Viễn Dương Thuyền Trưởng Pháp, cựu
Hoa Tiêu Sông Saigon, Ông Phùng Lương Ngọc, Viễn
Dương Thuyền Trưởng Pháp, cựu Thuyền
Trưởng tàu Việt Nam Thương Tín I, nguyên Giám Đốc
Kỹ thuật Công ty Việt Nam Hàng Hải, Ông Nguyễn Tấn
Quyền, Kỷ Sư Cao Đẳng Đại Học
Grenoble, xử lư thường vụ Giám Đốc, Ông
Đỗ Ngọc Oánh, Kỷ sư tốt nghiệp tại
École des Ingénieurs Mécaniciens Pháp, Kỷ sư Hải Quân Thiếu
Tá, xử lư thường vụ Giám Đốc và Ông Phạm
văn Sanh, tốt nghiệp trường Hàng Hải Pháp
(École Navale), Hải Quân Trung Tá, vị Giám Đốc
sau cùng của trường.
Ông Phạm
văn Sanh - Giám Đốc sau cùng của trường- H́nh
trích từ tài liệu [2]
Mục tiêu
thi tuyển Trường Việt Nam Hàng Hải đào tạo
các sĩ quan:
1.
Ban
Chỉ Huy (Pont);
2.
Thuyền
Trưởng Cận Duyên (Capitaine au Petit Cabotage) ;
3.
Thuyền
Trưởng Viễn Duyên (Capitaine au Grand Cabotage) .
Theo luật
lệ hàng hải của Việt Nam Cộng Ḥa, các tàu bè
được trang trí Cận Duyên hàng hải chỉ được phép hải
hành dọc bờ biển Việt Nam từ Cảng Sài g̣n
đến Cảng Đà Nẳng về phía Bắc.
Các tàu trang
trí Viễn Duyên hàng hải được phép hoạt động
trong vùng biển giới hạn bởi Nhật Bản phiá
Bắc, Phi Luật Tân phiá Đông, Nam Dương Quần
Đảo phiá Nam và Ấn Độ phiá Tây, nghĩa là bao gồm
một vùng tương đối rộng ở Đông Nam
Á Châu.
Bắt
đầu từ năm 1973, trường Việt Nam Hàng Hải
được nâng cấp lên đào tạo :
1.
Các
Viễn Dương Thuyền Trưởng (Capitaine au Long
Cours) sẽ chỉ huy các con tàu đi khắp nơi trên thế
giới ;
2.
Ban
cơ Khí (Machine) + Sĩ Quan Cơ Khí Hạng Nh́ (Mécanicien
2ème classe) ;
3.
Sĩ
Quan Cơ Khí Hạng Nhứt (Mécanicien 1ère classe) .
Về
điều kiện dự thi tuyển vào trường, thí
sinh phải có văn bằng Tú Tài 1 phổ thông (Ban B
Toán hay Kỹ Thuật trở
lên.
Các môn thi áp dụng cho hai ban gồm có :
Chung cho cả hai ban :
Đại số và số học (hệ số 2)
,Sinh ngữ Pháp và Anh;
Riêng cho mỗi ban: Ban Chỉ Huy : H́nh học và Lượng
giác học (hệ số 3) - Ban Cơ Khí : Vật Lư (hệ
số 3).
Trên thực tế, đa
số thí sinh dự thi tuyển đều có bằng Tú Tài
phần 2 ban B-Toán hay Kỹ Thuật-Toán trở lên , nhứt
là theo học Ban Chỉ huy, sinh viên phải có kiến thức
căn bản về Toán để học Lượng giác
cầu (Trigonométrie Sphérique) hầu có thể giải đáp
các bài toán Thiên Văn Hàng Hải (Calcul Nautique) để áp dụng
về sau trong lúc chỉ huy một con tàu trên đại
dương.
Theo tài liệu [8] :Hàng
năm thí sinh dự kỳ thi tuyển rất đông;
như năm 1971, khoảng 1200 thí sinh cho ban Chỉ huy và 950
cho ban Cơ khí. Từ trước đến nay trường
chọn mỗi ban khoảng 23 người trúng tuyển vào
năm thứ nhất.
Thời gian thực tập: Sau hai năm học tập
tại trường, các sinh viên tốt nghiệp được
cấp chứng nhận đậu bằng Cận Duyên, Viễn
Duyên (phần lư thuyết) hoặc Cơ Khí hạng 2, hạng
1 (phần lư thuyết) và sẽ xuống thực tập
trên thương thuyền trong những chức vụ sau
đây:
·
Ban Chỉ Huy (Section Pont): hai năm đầu
với tính cách Học viên (E.O.P.-Élève Officier Pont). Thời
gian trên có thể được linh động, uyển
chuyển, có thể ngắn hoặc dài hơn tùy theo nhu cầu
nghề nghiệp. Tiếp theo sẽ được bổ
nhiệm làm Sĩ quan Phụ tá (Lieutenant). Sau đó có thể
được lên chức Phó Thuyền trưởng (Second
Capitaine) ;
·
Ban Cơ Khí (Section Machine): hai năm đầu
với tính cách Học viên Cơ Khí (E.O.M.- Éléve Officier
Machine). Sau đó có thể được lên Sĩ quan
Cơ Khí hạng 4, hạng 3 và Cơ Khí Phó. Trong thớ gian
thực tập, việc bổ nhiệm các Sinh viên Sĩ
quan vào các chức vụ trên rất là uyển chuyển tùy
theo nhu cầu nghề nghiệp và số lượng tàu bè
lúc bấy giờ.
Thi thực hành: Sau khi hoàn tất 60 tháng hải hành trên
các thương thuyền, các Sĩ quan Hàng Hải trở về
trường tu nghiệp khoảng 6 tháng trước khi dự
thi phần thực hành (Application). Trong phần thi thực
hành, các thí sinh Ban Pont, ngoài các bài thi viết về Toán Hải
hành (Calcul Nautique) và các bài tính về Thủy triều (Calcul
des Marées) phải qua các phần khảo sát có tính cách chuyên
nghiệp, những phản ứng cấp thời trong những
trường hợp đặc biệt có thể xảy ra
trong nghề nghiệp của ḿnh.
Các ứng viên trúng tuyển sẽ được cấp
Văn Bằng Thực hành: Văn bằng Cận Duyên/Viễn
Duyên Thuyền Trưởng (Brevet de Capitaine au Petit/Grand
Cabotage), Văn bằng Cơ Khí Hạng Nh́/Cơ khí Hạng
Nhứt (Brevet Mécanicien 2ème classe/Mécanicien 1ère classe).
Với các văn bằng thực hành, các
đương sự được chánh thức và hợp
pháp đảm nhiện các chức vụ tối cao như
sau trên các thương thuyền: Thuyền Trưởng cho
các ứng viên trúng tuyển Ban Chỉ Huy ; Cơ Khí Trưởng
cho các ứng viên trúng tuyển Ban Cơ Khí.
Trên thực tế, các sỉ
quan tốt nghiệp các bằng thực hành c̣n phải
đảm nhiệm các chức vụ phụ tá như Phó
Thuyền Trưởng và Cơ Khí Phó trong một thời
gian từ 1 đến 2 năm mới có thể lên Thuyền
Trưởng và Cơ Khí Trưởng tùy theo nhu cầu nhân
sự.
Tính ra, một sinh viên từ khi bước chân vào
Trường Hàng Hải phải trải qua 10 năm
dài mới có thể làm Thuyền Trưởng và Cơ Khí
Trưởng.
Các môn học: Đa số các môn học được
giảng dạy bằng Việt ngữ, tuy nhiên một số
tài liệu có tính cách chuyên môn được tŕnh bày bằng
tiếng Pháp và Anh. Cho đến năm 1955, v́ phần lớn
giáo sư là người Pháp cho nên các môn học được
giảng dạy có thể nói là 100% bằng tiếng Pháp.
ü Ban
Chỉ Huy : Thiên Văn Hải hành (Astronomie Nautique), Hải
Hành (Navigation), Toán Hải Hành (Calcul Nautique), Hải Đồ
và các dụng cụ hải hành (Cartes marines et Instruments
Nautiques), Kỷ thuật tàu (Technologie navale), Vận chuyển
– Chuyển hàng – Pḥng tai (Manoeuvre – Manutention – Sécurité),Thủy
thủ công (Matelotage), Quy luật tránh tàu (Réglèment d’abordage)
,Thủy hiệu-Hải hiệu-Hải đăng
(Hydrographie – Balisage – Phares) ,Luật Hàng hải (Législation
maritime) , Y tế Hàng hải (Hygiène navale) , Khí tượng học
(Météorologie) , Cơ học áp dụng (Mécanique appliqué) ,Toán-
Điện từ (Mathématiques-Électromagnétisme), Sinh ngữ Pháp
và Anh.
ü Ban
Cơ khí :. Máy tàu (Machines marines) , Các động cơ nổ
và Diésel (Moteurs à explosion et Diésel) , Turbine khí (Turbine à gas) ,Nguội-Dũa-Hàn
(Adjustage – Soudure) , Kỷ nghệ họa (dessin Industriel), Kỷ
nghệ lạnh (Frigo), Kỷ thuật học (Technologie
navale),Điện kỷ nghệ (Électricité industrielle), Cơ
học áp dụng (Mécanique appliqué) ,Điện từ
(Électromagnétisme) , Nhiệt độ học (Thermodynamique) ,
Pḥng tai (Sécurité), Luật hàng hải (Législation maritime),
Toán, Sinh ngữ Pháp và Anh.
ü Các
Giáo sư kỳ cựu: Trường Viêt Nam Hàng Hải từ
ngày thành lập có những giáo sư kỳ cựu như
sau :Giáo sư Bùi Quang Khánh, Kỷ sư tốt nghiệp
Institut Électronique de Toulouse, dạy Kỷ Nghệ họa và Kỹ
thuật học, Giáo sư Patron, dạy Thiên văn Hàng hải,
Toán Hàng hải, Hải hành, Hải đồ, Dụng cụ
hải hành từ 1947 đến 1955, Giáo sư Apex, dạy
môn Hải hành, Giáo sư Giraud, Kỷ sư Pháp dạy Kỹ
thuật học, Giáo sư Moreuil, Kỷ sư Pháp dạy
Chuyển hàng, Pḥng tai, Giáo sư Gallois dạy môn moteur, Giáo
sư Gourand dạy môn machine, Giáo sư Corbin, Thiếu tá Hải
Quân Pháp dạy Luật Hàng hải. Ông là Giám Đốc Sở
Đăng kư Hàng hải (Administrateur de l’Inscription Maritime),
Giáo sư Mérillon, cũng là Giám Đốc Sở Đăng
kư Hàng hải, dạy môn Luật Hàng hải, Ông Lương
Quang Thọ, Cựu Hoa tiêu sông Saigon, dạy môn Hải hành,
Giáo sư Nguyễn Văn Đức, Kỷ sư Công Chánh,
dạy môn Thủy Hiệu học, Giáo sư Jean Ducasse, Thuyền
Trưởng Viễn Dương Pháp, dạy các môn Toán và
Thiên Văn Hải hành.
ü Để
đáp ứng nhu cầu hữu hiệu hóa các môn học có
tính cách chuyên môn, trường đă mời nhiều viên chức
cao cấp trong chánh quyền cũng như trong ngành nghề
hàng hải đến cộng tác như: Học viện Quốc Gia Hành
chánh, Nha Khí tượng Saigon, Luật sư đoàn Việt
Nam, Nha Thủy vận,,Trường Pétrus Trương
Vĩnh Kư, Các cựu Thuyền trưởng và Hoa tiêu và Hải
Quân Việt Nam .
Đến năm 1973, Đội Thương thuyền
quốc gia phát triển mạnh mẻ với sự hiện
diện của những chiếc tàu chạy ra ngoại quốc,
vượt quá giới hạn của các vùng hoạt động
đang có, trường Việt Nam Hàng Hải đă
được nâng lên cấp Cao Đẳng nhằm đào
tạo những Viễn Dương Thuyền Trưởng (Grand Cabotage) và các Kỷ sư
Cơ khí Hàng hải để phục vụ trên các loại
tàu lớn chạy trên các trục hải hành quốc tế.
Sinh viên phải học một chương tŕnh qui định
là 4 năm, nhưng khóa nầy chưa hoàn tất được
v́ biến cố 30/4/1975.
Trước khi kết thúc bài tham khảo nầy, thật
là một điều thiếu sót nếu không đề cập
đến mối liên quan mật thiết giữa hai tập
hợp của những người đi biển là Hàng Hải
và Hải Quân.
Từ những khóa đầu tiên thời Pháp thuộc,
một số các sĩ quan Hàng hải đă cam kết phục
vụ trên các chiến hạm Hải quân Pháp trong một thời
gian qui định sau khi tốt nghiệp.
Rồi từ năm 1947
trở về sau, đặc biệt trong những khóa đầu
tiên của Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa, có thể nói
toàn thể các khóa nầy đều là những người
tốt nghiệp từ trường Hàng Hải.
Trong những năm đầu
đầu thập niên 1950, v́ nhu cầu phát triển quân chủng
Hải Quân trong thời gian chuyển tiếp, các sĩ quan
được huấn luyện cấp tốc bằng cách
dùng những sinh viên hàng hải đă có những căn bản
kiến thức về hải hành chuyên nghiệp chuyển
đến Trung tâm Huấn luyện Hải Quân Nha Trang để
bổ túc về quân sự như chiến thuật hải
quân, hải pháo, v…v… và những sĩ quan tốt nghiệp
các khóa đầu tiên Hải Quân đă trở thành những
vị Tư Lệnh cao cấp và Chỉ huy trưởng
các lực lượng Hải Quân về sau.
Hơn nữa, các Sĩ
quan Hải Quân khi giải ngũ và muốn tiếp tục
con đường hải nghiệp của ḿnh, có thể về
trường Việt Nam Hàng Hải dùng thời gian hành thủy
của ḿnh lúc tại ngũ để thi lấy các văn
bằng hàng hải để phục vụ trên các
thương thuyền hoặc các ngành hoa tiêu, thương cảng,
vv… Cũng v́ mối quan hệ mật thiết giữa hai tập
thể Hàng Hải và Hải Quân, trong một buổi họp
khoáng đại của Tổng Hội Hải Quân trong thập
niên 1990, toàn thể Đại hội đă biểu quyết
đổi danh hiệu là Tổng Hội Hải Quân và Hàng Hải
Việt Nam.
Vào năm 1973 này, theo Sắc lệnh số 033-SL/GD ngày
21/03/1973 , Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ) đổi thành Viện Đại
Học Kỹ Thuật (Học Viện Quốc Gia Kỹ
Thuật - HVQGKT). Viện Đại
Học Kỹ Thuật này bao gồm sáu (6) trường
thành viên: Trường Cao Đẳng Công Chánh, trường
Cao Đẳng Công Nghệ , trường Cao Đẳng
Điện Học, trường Cao Đẳng Hóa Học,
trường Cao Đẳng Hàng Hải (Việt Nam Hàng hải)
và Trường Kỹ Thuật và Khoa Học Căn Bản.
Theo tài liệu [8] : Đáng chú ý, trường
Kỹ thuật và Khoa học căn bản được
thành lập theo sắc lệnh 135SL/GD để hỗ trợ
cho năm trường cao đẳng thuộc HVQGKT. Trường
Kỹ thuật và Khoa học căn bản có nhiệm vụ
giảng dạy cho sinh viên năm thứ nhất các kiến
thức về kỹ thuật khoa học để sinh viên
có thể theo các ngành chuyên môn ở các năm tiếp theo (tại
năm trường cao đẳng c̣n lại). Học sinh
có bằng Tú Tài 2, ban B (Toán) hoặc
Tú Tài Kỹ Thuật Toán của
trường Trung học Kỹ thuật Công nghiệp
được thi tuyển, nếu đậu sẽ học
năm thứ nhất tại trường này .
Và chỉ khoảng một tháng sau ,Viện Đại
học Bách Khoa Thủ Đức được thành lập theo Sắc lệnh số 083-SL/GD
ngày 30/04/1973 .
Tiếp theo đó ,vào ngày 11/01/1974 do Sắc lệnh số 010-SL/VNGDTN,
Viện Đại Học Kỹ Thuật ( trước
đó là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ
Thuật (Phú Thọ)) là thành
viên Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức, với
tên Trường Đại học Kỹ thuật và chỉ đào tạo hệ
đại học.
Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức gồm
có 7 trường đại học thành viên, trong đó có 3
trường đă tồn tại
và hoạt động riêng rẽ trước đó (
đánh số 1, 2 vả 3) và 4
trường mới (đánh số 4,5,6,và 7) :
(Xem thêm chi tiết trong bài Viện Đại Học
Bách Khoa Thủ Đức của cùng tác giả).
Sau ngày mất nước 30/4/1975, trường Trường
Việt Nam Hàng Hải (Phú Thọ)
bị ngụy quyền cộng sản tịch thu vá
sát nhập vào trường Hàng Hải Hà Nội (Sic).
Phụ đề 1 : Sơ
lược tiểu sử người sáng lập và
Hiệu Trưởng đầu tiên trường kỹ
thuật Cao Thắng, ông Emmanuel Rosel
Theo tài liệu [3] :
Ông Emmanuel
Rosel, sanh ra ở Toulon- Pháp ngày
31 tháng 1 năm 1866. Sau khi tốt
nghiệp trường École Nationale des Arts et Métiers d'Aix,
năm 18 tuổi, ông t́nh nguyện vào Hải Quân Pháp như
một học tṛ tập sự cơ khí. Ngay sau đó tham dự
chiến dịch Bắc Kỳ (Tonkin) dưới lệnh của
Đô Đốc Courbet.
Ông Rosel là kỹ sư về máy (cơ khí ?) nơi sở Ba Son (Arsenal) . Khả năng
chuyên nghiệp của ông đă
giúp ông có được nhiều cấp bực nghạch
trật liên hệ tới sự nghiệp của ông: Ngày 8
tháng 8 năm 1911, ông được phong làm Cơ Khí Trưởng và ngày 7 tháng 12 năm 1921, làm Thanh
Tra Cơ Khí (mécanicien inspecteur -
thanh-tra các trường dạy máy cơ khí ). Ông về hưu (giải
ngũ) Hải Quân Pháp ngày 31 tháng 1 năm 1924 với chức
Kỹ Sư Cơ Khí Trưởng (mécanicien en chef ) - hạng
nh́ . Trong cuộc đời binh nghiệp, ông Emmanuel Rosel lên
tới chức Đại tá hải quân Pháp .
Vào tháng 2 năm 1906, ông được giao cho một nhiệm
vụ thành lập trường
École des Mécaniciens Asiatiques (Trường Cơ Khí Á Châu), rồi ngay sau đó vào ngày 1 tháng
3, ông được rời khỏi nhiệm vụ này
để làm hiệu trưởng trường này.
Đầu tiên ,trường École des Mécaniciens
Asiatiquesđược đặt ở trường École
Professionnelle d’Industrie trên
đường Chasseloup Laubat, trổ ra đường
Miche (sau này là trường trung học kỹ thuật Nguyễn
Trường Tộ trên đường Hồng Thập Tự
- Phùng Khắc Khoan), sau đó vào năm 1908 th́
dọn về địa chỉ trên đường
Đổ Hữu Vị (sau là Huỳnh Thúc Kháng). (Xem thêm chi tiết về trường kỹ
thuật Nguyễn Trường Tộ trong bài Trường
trung học ở Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975- Trường Kỹ
Thuật Nguyễn Trường Tộ của cùng tác giả)
.
Do những hoạt động phi thường của
nhà thủy thủ này, ngôi trường khiêm tốn càng ngày
càng quan trọng. Điều này không ngăn cản ông đảm
nhiệm thêm chức vụ khác.
Trong giai đoạn thế chiến thứ nhất,
trường được trưng dụng bởi bộ
quốc pḥng. Năm 1916, các xưởng của trường
mỗi ngày, tiện được 700 đại bác 75 ly.
Sau đó c̣n gửi qua Pháp một đội gồm có 1600 tập
sự t́nh nguyện, để giúp chính quốc có nhiều phương tiện.
Sau khi chiến tranh chấm dứt, trường lấy lại nhiệm vụ ban đầu , nhưng trường cũng không ngừng thành lập thêm nhiều ngành mới khác trong chương tŕnh giảng dạy : Điện khí,lái xe hơi, lớp tập sự chủ nhật .Một trường hàng hải được mở ra.
Kể từ
ngày 21 tháng 6 năm 1918, ông Rosel được chỉ định
chức vụ Thanh Tra chương tŕnh giáo dục chuyên nghiệp.
Ngày 24 tháng 5 năm 1924, ông làm
việc quần quật để
điều khiển vận mệnh của trường.
Theo tài liệu [10] : Vào năm 1924, hai trường dạy
nghề (Trường dạy
bá nghệ, tên Pháp là École Pratique d’Industrie đường Hồng
Thập Tự và trường
École des Mécaniciens Asiatiques ở
đường Huỳnh Thúc Kháng ) đều giao cho Rosel
làm hiệu trưởng và gọi chung là École Technique Spéciale
de Sàig̣n.
Tất cả
những người quen biết với ông, đều giữ
trong trí nhớ một h́nh dáng quen thuộc với tất cả
Sàig̣n: một thiện nhân, h́nh vóc nhỏ, thẳng như chữ
I, bó trong áo nẹp rộng tay (của kỵ binh) (dolman) thời
trang kiểu xưa, kiếng cặp trên mũi sẵn sàng
chiến đấu, luôn luôn ở
t́nh trạng báo động,
luôn luôn bận rộn, chạy từ một công chuyện
này tới một công chuyện khác, ngồi
thụt sâu trong một chiếc xe hơi lỗi thời và là chiếc xe xập xệ nhứt
trong số những xe dưới sự kiểm soát của
ông.
Một người
nhanh lẹ như thuốc súng, mănh liệt
trước những mâu thuẫn, ở ông đốt một
ngọn lửa nội tâm đôi khi nổ ra mănh
liệt với một cá tính vùng
Midi, Pháp, từ lời nói tới bộ tịch .
Tác giả tài liệu[10] viết :
‘’Rosel, người lùn, không
hơn 1 mét 50, nhưng có bề ngang, đi đứng nhậm
lẹ, tay bằng miệng, miệng bằng tay, tiếng
nói rổn rảng như máy nổ, có thể nói ông là thực
dân xấu nhứt, v́ ông hay rầy và quở các học tṛ
trường ông, nhưng xin cho tôi
gia cải chính minh oan cho ông và tôi dám quả quyết
Rosel là người thương và giúp ích cho người Việt
ta nhiều hơn các Tây ở đây tôi đă biết.
Tôi xin kể nhiều về trường Rosel, v́ ông nầy
là ân nhơn đỡ đầu cho tôi khi tôi thi đậu
ra trường, và cũng nên gọi ông là ân nhơn của
nhiều thế hệ người hành nghề về máy,
máy tàu cũng như máy xe hơi.
Theo tôi, Rosel giỏi nghề giao thiệp, nhờ sửa
chữa máy tàu, máy xe mà ông thân thiện với các tay to mặt
lớn, và nhờ giúp nhiều cho Thống Đốc, khiến
nên khi sắp hạng và định lương cho học
tṛ trường, Rosel đă ̣n ỹ và xin được sắp
hạng người học trường của ông
được ăn lương ngang hàng với
lương thơ kư ngạch Soái-phủ (ông cắt
nghĩa phải được lương cao th́ ông mới
tuyển được nhiều học tṛ trường
các tỉnh người học nghề máy , vả lại
nghề lành giỏi máy và không dịp ăn hối lộ là
nên khuyến khích. Cố nhiên Thống Đốc y lời
ông Rosel. Ngoài số lương hậu hỷ, những thầy
thợ dạy nghề của trường, Rosel đều được cấp nhà để
ở khỏi tiền (dăy bọc
theo đường Pasteur) . Và khi những thợ máy ấy
về hưu, Rosel vẫn vận động cho làm sếp
coi máy hoặc hăng ḷ đường Đức Ḥa, hoặc
coi máy tàu các tỉnh miền Tây, Cà Mau, Năm Căn, nhàn hạ’’.
Ông Rosel chết
đột ngột ở Sàig̣n ngày 24 tháng 10 năm 1939 lúc 73
tuổi, gây nỗi bàng hoàng cho
những người bạn hữu và các cộng sự
viên của ông.
Tác giả tài liệu
[10] viết :
‘’Rosel, th́nh ĺnh
đang mạnh khỏe, một đêm vào năm 1939 ông dùng
cơm tối, bị mắc nghẹn, phu nhơn định
sai người đi rước bác sĩ Viel, Rosel cản
lại rằng họ ăn giá mắc (10$ thay v́ giá ban ngày
là 5$), hà tiện năm đồng bạc, đêm ấy
ông nghẹn thở. Và năm ấy tôi không hay và rất tiếc
không được tiễn một quan thầy đỡ
đầu tốt bụng. Duy anh Nguyễn Văn Thành, có
nhà ở Kho Đạn gần vườn Thảo Cầm
(Sở Thú), một tay lo việc tẩm liệm và quan tài của
Rosel được đưa xuống tàu chở về an
táng ở quê nhà tại Toulon ‘’.
Ông Emmanuel Rosel đă nhận được nhiều giấy
chứng nhận hài ḷng của Toàn Quyền Đông
Dương, Thống Đốc Nam Kỳ và Giám đốc
học vụ công cộng ở Đông Dương. Ông được
phong là Officier de la Légion d'Honneur (ngày 24 tháng 12 năm 1923),
Officier de l'instruction publique (Giáo dục công cộng) và là
người được giải
thưởng (titulaire) tất cả mề
đay của l'Union Indochinoise.
Bởi nghị
định số 123-N ngày 18
tháng 5 năm 1940 của Toàn Quyền Đông Dương ,
trường École des Mécaniciens Asiatiques đổi tên thành
trường École
des mécaniciens-École
Rosel để tưởng nhớ công ơn người
sáng lập.
Phụ đề 2 : Vài
hàng về Kỹ
sư Trần Văn Bạch
Theo tài liệu [8] : Ông Trần Văn Bạch tốt nghiệp kỹ sư khóa 1935 của École
National des Ponts et Chaussées de Paris ( Kiều Lộ) .
Ông được mời
làm Tổng Trưởng Công Chánh và Giao Thông Vận Tải
trong nội các ngày 6 tháng 7 năm 1954 của Thủ
Tướng Ngô Đ́nh Diệm.
Vì sự quan tâm đặc
biệt về tình trạng Giáo dục Kỹ
Thuật thực tế ở Miền Nam, ông
rời bỏ chức vụ Tổng
Trưởng Công Chánh và Giao Thông Vận Tải
để đãm nhiệm chức vụ Giám
Đôc Nha Kỹ Thuật Học Vụ, tiền thân của
Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ.
Ông Bạch không những là Giám
Đốc trường
Cao Đẳng Kỹ Sư Công Nghệ và trường
Việt Nam Hàng Hải , ông
còn là giáo sư thỉnh giảng của
trường Đại học Khoa Học,
trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc…
Ông cũng là
người đóng góp vào việc thành lập Trường
Quốc Gia Thương Mại (École Nationale De Commerce de
Saigon) vào năm 1956. Trường này được dọn về khuôn viên Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật Phú Thọ năm 1965 .
Hầu hết các sinh viên ngành Khoa
học, Kỹ thuật đều là học trò
của ông. Kỹ sư Trần Văn Bạch, một
nhà giáo dục tận tâm,đã đóng
góp to lớn cho nền giáo dục miền Nam.
Ông là một
người rất nhân từ, khiêm tốn.Ông cho nhiều học
sinh nghèo ở tỉnh theo học trường chuyên nghiệp
tại Sàig̣n, được phép vào trú ngụ trong mấy
cái xưởng không dùng đến.
Trong tài liệu [11],một cựu học sinh trường Cao Thắng cũng viết
tương tự như
trên : ‘’ Năm 1956, tôi vào học lớp
Đệ Thất Trường Kỹ Thuật Phan Đ́nh
Phùng, chi nhánh của Kỹ Thuật Cao Thắng. Qua năm 1957,tôi được ông
Giam Đốc Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học
Vụ Kỹ sư Cầu cống
Trần Văn Bạch cho tôi và một số học sinh
khác tạm trú trong khuôn viên của Nha ’’.
Ông người miền Nam, rất
b́nh dị ,sinh năm 1910, mất năm 1975.
Tài liệu
tham khảo :
1.
https://dongsongcu.wordpress.com/2017/09/28/truong-hang-hai-viet-nam-tu-nam-1940-den-nam-1953/ Trường Hàng Hải
Việt Nam từ năm 1940 đến năm 1953 - Bùi
Ngọc Hương Cựu hoa tiêu sông Sàig̣n - March, 2006 -
Posted on September 28, 2017 by dongsongcu.
2.
https://bienxua.wordpress.com/2017/09/26/truong-viet-nam-hang-hai/comment-page-1/ Trường Việt
Nam Hàng Hải – Bùi Ngọc Hương – Cựu Hoa tiêu sông
Saigon - Ngày 06 tháng 3 năm 2006 -Posted by bienxua on September 26, 2017 .
3.
André
Baudrit-Guide historique des rues de Saigon-1re édition-S. I. L. I.
Saigon-1943.
4. https://damtrungphan.wordpress.com/2022/12/25/cuu-thuyen-truong-pham-ngoc-luy-qua-doi/ Cựu
Thuyền Trường Phạm Ngọc Lũy qua đời
- Posted by dam trung phan on 25/12/2022.
5. https://hon-viet.co.uk/GiaoChi_TauTruongXuanVaThuyenTruongPhamNgocLuy.htm Tàu
Trường Xuân và Thuyền Trưởng Phạm Ngọc
Lũy -Giao Chỉ.
6. https://chienhuuvnch.com/2022/12/28/chuyen-tau-truong-xuan-pham-ngoc-luy/
Chuyện tàu Trường Xuân – Phạm
Ngọc Lũy-2022/12/28.
7. http://startup.gov.vn/Pages/NguonNhanLuc.aspx?ItemID=91 Bộ
Khoa Học và Công nghệ - Cổng Thông Tin Khởi Nghiệp
Đổi Mới Sáng Tạo Quốc Gia - Trường Đại
học Bách Khoa TP. HCM .
8. https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y
Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn
bằng tốt nghiệp ở miền Nam
trước 1975.
9. GS.
Huỳnh Công Ân – Các trường Đại Học ở miền
Nam trước 1975 (Phần
1).
10. https://ahvinhnghiem.org/CaoThang/VuongHongSenVietVeKTCaoThang.html Vương Hồng Sển viết về
KT Cao Thắng - Nguyễn Hoạt đăng .
11.
Huỳnh Ái Tông - Tản Mạn Về
Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ
.
07- Học Viện Quốc Gia Hành Chánh ( Trường Quốc
Gia Hành Chánh ) - Số 10,
đường Trần Quốc Toản - Quận 10 – Sàig̣n
Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (HVQGHC) là
hậu thân của trường Quốc Gia Hành Chánh
Đà Lạt .
Theo tài liệu [1,2,3] : Trường Quốc Gia Hành
Chánh được thành lập tại Đà Lạt do Nghị
Định số 246-CAB/S của Quốc Trưởng Bảo
Đại kư ngày 7 tháng 4 năm 1952 . Trường trực
thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục .
Tuy nhiên,theo tài liệu [1] :
Cơ sở của trường Quốc Gia Hành
Chánh này đă được
thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với
văn bản kư ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào
tạo nhân sự chuyên môn trong lănh vực công quyền
như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở
đặt ở Đà Lạt.
(Phụ
chú : Như thế bộ phận này của trường
Đại học Luật Khoa có phải là cơ sở ban
đầu của trường
Quốc Gia Hành Chánh Đà Lạt thành lập năm 1950 như
đă viết trong tài liệu [1] ? Xin các bâc thức giả
bổ túc dùm. Xin đa tạ ).
Theo tài liệu
[5] : Trụ sở của Trường Quốc Gia Hành
Chánh được đặt
tại Hôtel Du Lac, Đà Lạt.
Theo tài liệu
[3] : Do bởi Nghị Định số 560-PTT/TTK ngày 22
tháng 8 năm 1954, trường Quốc Gia Hành Chánh được
cải tổ và đặt trực thuộc Phủ Thủ
Tướng .
Tài liệu [6] viết
: Năm 1955, sau khi thành lập nước
Việt Nam Cộng Ḥa, do bởi
Nghị Định 483-TTP/TTK ngày 9 tháng 8 năm 1955, trường
Quốc Gia Hành Chánh đổi tên thành Học Viện Quốc
Gia Hành Chánh (HVQGHC) .
Hơn nửa,
theo tài liệu [1] : Đến năm 1955 sau khi về
nước chấp chánh, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm
v́ nhận thấy vai tṛ quan trọng của cán bộ hành
chánh trong công cuộc xây dựng quốc gia nên đă cho dời
trụ sở của trường từ Đà Lạt về
Sàig̣n và đổi tên thành Học
viện Quốc Gia Hành Chánh (HVQGHC), trụ sở đặt
tạm tại số 4 đường Alexandre de Rhodes-Quận
1, địa điểm này
sau là trụ sở của Bộ
Ngoại Giao của Việt Nam Cộng Ḥa.
Mặt tiền Học Viện
Quốc gia Hành Chánh trên đường Alexandre de Rhodes,
Sàig̣n - H́nh trích từ tài liệu [2]
Theo tài liệu [2] : Niên
học 1955, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh có 97 sinh viên
.
Theo tài liệu [3 ] : Học
Viện Quốc Gia Hành Chánh trực
thuộc Phủ Thủ Tướng . Đến năm
1957, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh trực thuộc Phủ Tổng
Thống .
Rồi lại dời về
trường sở mới to lớn và khang trang tại số
10, đường Trần Quốc Toản, Quận 3 (quận
10?), vào năm 1958 (1962
theo tài liệu [1] ,
1963 theo tài liệu [5]).
Theo tài liệu
[7
] : Giáo sư Vũ Quốc
Thông lúc đó đương kim Bộ Trưởng Bộ
Xă Hội và Y Tế được bổ nhiệm làm Viện
Trưỡng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh .
Năm 1962, Học Viện Quốc
Gia Hành Chánh được chuyển về trường sở
mới tại số 10, đường Trần Quốc Toản
- H́nh trích từ tài liệu [8]
Buổi lễ khánh thành Học
Viện Quốc Gia Hành Chánh vào ngày 23 tháng 8 năm 1962 -H́nh
trích từ tài liệu [8]
Mặt tiền Học Viện
Quốc Gia Hành Chánh đường Trần Quốc Toản
Cơ sở mới của HVQGHC này gồm có
giảng đường 500 chỗ, kư túc xá cho 114 sinh viên, thư viện với hơn 100.000
văn bản, nhà sinh hoạt, sân quần vợt, sân bóng chuyền, câu
lạc bộ và băi đậu xe rộng mênh mông. Trụ sở
mới c̣n có nguồn nước giếng riêng và máy phát
điện .
Học
Viện Quốc Gia Hành Chánh – H́nh trích từ tài liệu [9]
Không ảnh
Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (bên trái của
h́nh) năm 1966 - Bên phài của
h́nh là Tháp Nước nơi
công trường Dân Chủ
Đại
học Tiểu bang Michigan/Michigan State University (MSU) - Hoa Kỳ
(1955-1962) trợ giúp trong việc soạn giáo tŕnh cho Trường
. Kho sách của Trường được coi là một
trong những thư viện lớn nhất của
Việt Nam Cộng Ḥa.
Đại
học Michigan State University, Hoa Kỳ cũng bảo trợ
chương tŕnh đào luyện một lực lượng
sĩ phu hành chánh mới, thấm nhuần tinh thần quốc
gia và kỷ thuật quản trị khoa học tân tiến.
Từ
năm 1966, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh trực thuộc
Phủ Thủ Tướng .
Đến ngày 23 tháng 6 năm
1973 với Sắc lệnh số 583-TT/SL của Tổng Thống
Việt Nam Cộng Ḥa , Học Viện Quốc Gia Hành Chánh
đổi tên thành trường
Quốc Gia Hành Chánh và trực
thuộc Phủ Tổng Ủy Công Vụ.
Theo tài liệu [5,9] :
Mục
tiêu của Học Viện
Quốc Gia Hành Chánh :
1.
Đào
tạo các cấp chỉ huy hành chánh với tŕnh độ
đại học để phục vụ trong các cơ
quan công quyền tại trung ương và địa
phương;
2.
Nghiên
cứu và phát triển nền hành chánh của Việt Nam Cộng
Ḥa để theo kịp trào lưu thế giới ;
3.
Tham
vấn cho các cơ quan chính phủ về các vấn đề
liên quan đến hành chánh công quyền ;
4.
Tu
nghiệp công chức .
Tổ Chức :
Học Viện
gồm có:
Các
Giám Đốc, Viện Trưởng, Phó Viện Trưởng
:
Giám Đốc
( Thời trụ sở Trường tại Đà Lạt )
:
Viện Trưởng
(Thời trụ sở Trường tại Sài G̣n ):
Phó Viện
Trưởng:
Ban Giảng Huấn:
Lúc đầu Ban Giảng Huấn gồm các giáo sư
ngành luật và các công chức cao cấp giàu kinh nghiệm
hành chánh; Ngoài ra c̣n có một số giáo sư Mỹ thuộc
Phái Đoàn Michigan giảng dạy bằng tiếng Anh với
sự trợ giúp của các thông dịch viên. Dần dần
với đà phát triển của Học Viện, số
giáo sư gia tăng và trở nên đa dạng hơn.
Theo tài liệu [8] : Học viện QGHC đă có một
ban giảng huấn rất hùng hậu. Nhiều giáo sư
cơ hữu có bằng Tiến Sĩ tốt nghiệp trong
nước và ngoại quốc,
Trước năm 1975, Trường có 22 giáo sư tốt
nghiệp ngành Luật, 5 giáo sư ngành Hành Chánh Công Quyền,
7 giáo sư ngành Chính Trị Học, 4 giáo sư ngành Kinh Tế,
1 giáo sư ngành Quản Trị Kinh Doanh, 1 giáo sư ngành Xă Hội
Học, 2 giáo sư ngành Tài Chánh . Đa số các giáo sư tốt
nghiệp ở ngoại quốc như Mỹ, Pháp. Ngoài các
giáo sư cơ hữu, Học Viện c̣n mời thêm các
giáo sư từ Đại Học Luật Khoa, các chánh khách
có tăm tiếng và nhiều viên chức hành chánh cao cấp
trong chánh phủ giàu kinh nghiệm đến giảng dạy
về các đề tài thuộc lănh vực chuyên môn của
họ.
Ngoài ra theo tài liệu [9] : Ban
Giảng huấn gồm các giáo sư cơ hữu của Học
Viện Quốc Gia Hành Chánh và
các giáo sư thỉnh giảng từ Đại học Luật
khoa. Sau đây là danh sách các giáo sư xếp theo vùng miền:
* Giáo sư sinh trưởng tại miền Nam và miền
Trung: Tôn Thất Trạch, Cao Hữu Đồng, Nguyễn
Xuân Khương, Trần Ngọc Liên, Trương Ngọc
Giàu, Trần Văn Pḥ, Trần Văn Binh, hai Đốc Phủ
Sứ có bằng Cử nhân Luật : Lê Văn An và Bùi
Quang Ân, Phan Tấn Chức, Châu Tiến Khương và Nguyễn
Tấn Thành (giáo sư đại học Luật khoa).
*Giáo sư sinh trưởng miền Bắc: Vũ Quốc
Thông, Nghiêm Đằng, Trần Văn Đỉnh, Trần
Văn Kiện, Nguyễn Quang Quưnh, Nguyễn Mạnh Tư,
Vũ Uyển Văn, Lê Đ́nh Chân, Nguyễn Lê Giang, Nguyễn
Cao Hách và Nguyễn Độ (giáo sư đại học
Luật khoa).
Hơn nửa, theo tài liệu [10] : Các giáo sư Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (QGHC) từ 1964 đến 1967 :
Nguyễn Văn Bông ,Nghiêm Đằng ,Nguyễn Ngọc Huy (dạy môn
Chính trị học và Luật Hiến pháp từ năm 1965
) , Vương Văn Bắc, Bộ Trưởng Ngoại
Giao của VNCH .Nguyễn Thị Huệ , Trần Văn
Đỉnh ,Trần Văn Kiện,Trần Văn Binh, Trần
Văn Đỉnh,Trần Văn Kiện,Trần Văn
Binh,Nguyễn Quang Quưnh,Nguyền Như Cương,Phan Thiện
Giới, Bùi Quang Khánh,Nguyễn Khắc Nhân,Trần Ngọc
Phát, Lương Thọ Phát,Lê Văn Thận và Nguyễn Duy
Xuân.
Ngoài ra theo tài liệu [7,11] : Học Học Viện Quốc Gia Hành Chánh c̣n có các giáo sư : Hoàng Xuân
Hào , Cao Văn Hở , Lê Công Truyền và Trần Ngọc Phát .
Các phái đoàn cố vấn: Phái Đoàn
MSU (Michigan State University) 1955-1962, và Phái Đoàn
IPA (Institute of Public Administration), 1971-1975 .
Tuyển Sinh:
·
Ban Tham Sự: (1956-1970) : Số tuyển
sinh thay đổi từ 77 đến 127;
·
Ban Đốc Sự: (1955-1975) : Mỗi
năm trường tổ chức cuộc thi tuyển 100
sinh viên với số nữ sinh viên tối đa là 6%, ngoại
trừ khóa 17 tuyển sinh được nâng lên 200.
Điều kiện dự thi là các thí
sinh phải có bằng Tú Tài Toàn Phần (Tú Tài 2) hoặc
là các công chức có thâm niên công vụ cho ban Tham Sự, Đốc
Sự. Mỗi kỳ thi số thí sinh rất đông.
Năm 1962 (khóa 10) số thí sinh là 2.000; Năm 1963 (khóa 11) số
thí sinh là 3.000 và năm 1974 (khóa 22) số thí sinh lên đến
8.000 ;
·
Ban Cao Học: (1965-1975) : Khởi
đầu Ban Cao Học chỉ có 2 ngành: Hành Chánh và Kinh
Tế Tài Chánh. Đến trước năm 1975, Ban Cao Học
có 6 ngành: Hành Chánh, Kinh Tế, Tài Chánh, Xă Hội, Ngoại
Giao và Thẩm Tra Kế Toán. Mỗi năm số tuyển
sinh cho mỗi Ban từ 10 đến 20 (50 theo tài liệu [8] ) . Số thí sinh cũng rất đông
(Khóa 8 Ngoại Giao số thí sinh là 400 ). Điều kiện
dự thi là thí sinh phải có bằng Cử Nhân hay
tương đương hoặc tốt nghiệp Ban
Đốc Sự.
Theo tài liệu [6] : Tất cả thí sinh dự tuyển phải
trải qua một kỳ khảo hạch gồm một bài
b́nh luận về các vấn đề văn hóa, xă hội,
kinh tế, chính trị…, để lượng giá kiến
thức tổng quát, khả năng suy luận và khả
năng diễn đạt tư tưởng của thí
sinh.
Đa số thí sinh bị loại v́ bài b́nh luận.
Ban giám khảo chỉ chọn một số thí sinh có điểm
cao về bài b́nh luận. Sau đó chấm tiếp các bài
khác của các thí sinh đă được chọn, với
hệ số thấp hơn, như bài thi về sử kư hoặc
địa lư nhân văn hay địa lư kinh tế và một
bài sinh ngữ, để tuyển chọn 100 thí sinh hằng
năm trong hằng ngàn thí sinh dự tuyển.
Tỷ số trúng tuyển khoảng 5% mỗi năm cho các
ban.
Bài b́nh luận với hệ số 4 là một bài trắc
nghiệm về khả năng am hiểu vấn đề,
khả năng phân tích và khả năng b́nh phẩm, tổng
hợp một đề cương
Thí sinh phải thi thố tài năng qua các bài b́nh luận
về triết lư trị quốc an dân, các thể chế
chính trị hoặc các định chế kinh tế, xă hội
quốc tế.
Đa số các đề thi của các bài b́nh luận
không mấy liên quan đến chương tŕnh trung học
hoặc đại học, nhằm trắc nghiệm kiến
thức tổng quát về văn hoá, xă hội, kinh tế,
chính trị… Kiến thức tổng quát được thủ
đắc qua kinh nghiệm sinh hoạt hằng ngày hay qua
các phương tiện truyền thông như báo chí, các tập
san nghiên cứu, truyền thanh, truyền h́nh mà chỉ những
học sinh hay sinh viên có năng khiếu
theo dỏi thời cuộc, lưu tâm đến hiện
h́nh đất nước hay t́nh h́nh thế giới mới
nghiên cứu.
Học Viện Quốc Gia Hành Chánh có sứ mệnh
đào tạo những thanh niên nam (90%) và nữ (10%) có kiến
văn, khả dĩ am hiểu t́nh h́nh xă hội, văn hoá,
kinh tế, chính trị để đảm nhiệm các vai
tṛ quản trị nền hành chánh công quyền của Việt
Nam Cộng Ḥa. Học Viện tuyển chọn các thí sinh có
năng khiếu sưu tầm, quan tâm đến đời
sống cộng đồng, thiên về sinh hoạt của
nhân quần xă hội, hoặc có khuynh huớng bẫm sinh
phục vụ quần chúng.
Bài b́nh luận với hệ số 4 là một bài trắc
nghiệm về khả năng am hiểu vấn đề,
khả năng phân tích và khả năng b́nh phẩm, tổng
hợp một đề cương .
Theo tài liệu [9] : Vào năm
1959 (khóa 6) , HVQGHC tổ chức tuyển sinh tại 2 trung
tâm, một tại Sài G̣n và một tại thị xă Huế.
Và việc tổ chức này khởi đầu và kết
thúc vào năm nào không rơ.
Theo tài liệu [8] : Các sinh viên
trúng tuyển được nhận một học bổng
$2000.00 mỗi tháng cho sinh viên thường, c̣n sinh viên nguyên
là công chức được tiếp tục lảnh
lương cũ, ngoại trừ phụ cấp chức vụ.
Học Tŕnh:
Chương tŕnh huấn luyện gồm 3 Ban :
·
Ban Tham Sự Hành Chánh: 1 năm và 3 tháng thực
tập;
·
Ban Đốc Sự: khởi đầu
là 3 năm (2 năm 6 tháng tại trường và 6 tháng thực
tập tại trung ương và điạ phương),
sau tăng lên 3 năm 6 tháng và kể từ khóa 20 tăng lên
4 năm. Các sinh viên phải viết Tờ Tŕnh Thực Tập
và Luận Văn Tốt Nghiệp.
·
Ban Cao Học: 2 năm (kể cả
thời gian thực tập).
Tài liệu [6] cũng viết
tương tự như trên :
Chương tŕnh huấn luyện gồm 3 Ban :
1. Tham
Sự, 1 năm (5 khóa tốt nghiệp từ năm
1965-1970) ;
2. Đốc
Sự, 3 năm rưỡi (20 khóa tốt nghiệp từ
1952-1975);
3. Và
Cao Học, 2 năm (8 khóa tốt nghiệp từ 1965-1975).
Theo tài liệu [2] :
Tham Sự
Tham sự là chương tŕnh hai năm ngay tại Học
Viện Quốc Gia Hành chánh. Có tất cả năm (5) khóa
Tham sự (mỗi khóa 100 sinh viên) và một (1) khóa Tham Sự
Đặc biệt dành cho các sắc tộc thiểu số
như người
Thượng, người
Việt gốc Miên và người Chàm.
Theo tài liệu [1] : Ban Tham Sự với học
tŕnh hai năm nhằm đào tạo công chức
hạng B.
Đốc Sự/Giám Sự
Đốc Sự hay Giám Sự là hai chức danh phân biệt
ban Hành Chánh (Đốc Sự) và ba Kinh Tế (Giám Sự). Kể
từ năm 1963, th́ gộp lại chỉ c̣n Ban Đốc
Sự.
Kể từ ngày thành lập
Học Viện Quốc gia Hành Chánh đến 1975, có tất
cả 22 khóa Đốc Sự (mỗi khóa có 100 sinh viên
được thi tuyển vào), học tŕnh là ba năm sáu
tháng.
Năm đầu tiên học lư thuyết tại HVQGHC
; Năm thứ hai được đi thực tập tại
các địa phương (các tỉnh và
Đô thành Sài G̣n); Năm thứ ba th́ về lại HVQGHC học
lư thuyết (hành chánh, tài chánh, xă hội, ngoại giao, toán,
kinh tế). Sau năm thứ ba, sinh viên có 6 tháng đi thực
tập tại các bộ ở Trung Ương và chọn một
đề tài luận văn tốt nghiệp
được giáo sư hướng dẫn chấp thuận
.
Sau kỳ thi ra trường, sinh viên trở thành công chức
hạng A với ngạch trật phó đốc sự hạng
3 và được cử đi làm việc theo nhu cầu
bao gồm Bộ Nội vụ (cho các tỉnh và quận)
tùy nhu cầu. Sinh
viên mới ra trường được đề cử
làm:
Tại các Bộ
chuyên môn ở Trung Ương th́ Đốc Sự có thể
kiêm nhiệm Chủ Sự các Pḥng, Chánh sự vụ các Sở,
hay Giám đốc các Nha.
Cao Học
Cao Học
là hai năm đào tạo thêm dành cho sinh viên đă tốt
nghiệp Đốc Sự hoặc có bằng Cụ Nhân các
ngành học về khoa học xă hội. Cho đến năm
1975 có tất cả tám (8) khóa Cao Học (cả Ngoại
giao).
Các môn học
gồm những kiến thức như Soạn thảo Công
văn, Kế toán Thương mại, Định chế
Chính trị, Luật Hành chánh, Quốc tế Công pháp, Luật Hiến
pháp,
Xă hội học .
Hơn nửa
theo tài liệu [1,5] : Từ năm 1955 đến
năm 1975, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh đă liên tục
tổ chức nhiều khóa Năng Lực Hành Chánh ,đây
là những lớp học buổi tối dành cho quân nhân và
công chức đương nhiệm để giúp họ cải
tiến kỹ năng và kiến thức chuyên môn hành chánh
để dự thi vào các ngạch hành chánh.
Chương
Tŕnh Học Tập:
Theo tài liệu
[5] : Lúc khởi đầu,
chương tŕnh giảng dạy chịu ảnh hưởng
của Trường Hành Chánh Pháp theo khảo hướng
Pháp Lư nặng về h́nh thức và luật lệ. Nhưng
từ khi có sự giúp đỡ của Phái Đoàn Michigan
chương tŕnh chuyển sang khảo hướng Quản
Trị của Hoa Kỳ năng động , thực dụng,
chú trọng về hiệu quả. Người sinh viên khi
ra trường không phải chỉ là người thay mặt
Chính Quyền thi hành luật pháp mà c̣n là nhà quản trị
đa năng giúp trung ương và địa phương
phát triển mọi mặt của xă hội.
Theo
tài liệu [6] : Chương tŕnh huấn luyện
gồm các môn chính trị, kinh tế, tài chánh, hành chánh, kế
toán, tư pháp, luật lao động, soạn thảo công
văn, soạn thảo ngân sách, thuế khóa, phương
pháp sưu tầm, xă hội học, thống kê, bang giao quốc
tế, các vấn đề hành chánh điển h́nh, luật
hành chánh…
Riêng ban
Đốc Sự, cuối năm học, sinh viên phải
thi viết 8 môn và thi vấn đáp 4 môn.
Trong năm
thứ 2, sinh viên chọn ngành chuyên môn: Ban Hành Chánh hay ban Kinh
Tài… Việc chọn ban nầy áp dụng từ khoá Đốc
Sự Đà Lạt (1952) đến khóa 12 Đốc Sự
(1964). Chương tŕnh thay đổi từ khóa 13 (1965)
đến khóa 22 (1974), tất cả sinh viên học chung một
chương tŕnh, không chia ban Hành Chánh hay Kinh Tài và thời
gian thực tập cũng không thống nhất giữa các
khóa. Trong chương tŕnh Cao Học, (1965) khi thi vào, thí sinh
đă tự chọn ngành chuyên môn như hành chánh, tài chánh,
kinh tế, ngoại giao, xă hội, thẩm tra kế toán….
( Lưu ư:
Khoá QGHC đầu tiên gọi là khóa Đà Lạt, các khóa kế
tiếp gọi theo thứ tự khóa 1, khóa 2,…,khóa 20 ) .
Qua năm thứ
3 sinh viên thường được phân chia đi thực
tập tại các tỉnh địa phương hoặc
các bộ tại trung ương. Sau đó trở lại
HVQGHC học phần thời gian c̣n lại của
chương tŕnh trước khi thi tốt nghiệp.
Trong thời
gian thực tập, sinh viên nghiên cứu các vấn đề
hành chánh địa phương, trung ương và gởi tờ
tŕnh tam cá nguyệt về HVQGHC, đồng thời thu thập
tài liệu để viết luận văn ( research paper)
cho cuối khoá học. Luận văn từ 40 đến
60 trang về một trong các đề tài liên quan đến
nền hành chánh công quyền quốc gia hiện hành do sinh
viên tự chọn.
Luận
văn tốt nghiệp của sinh viên Lê Thị Thúy Nga khóa
18-niên khóa 1970-1973 – H́nh trích từ tài liệu [8]
Theo tài liệu
[9] : Các môn học: Đa
số môn học giống như đại học Luật
khoa gồm : Dân luật, H́nh luật, luật Hiến pháp,
Kinh tế học…nhưng thêm một số môn học riêng
cho ngành hành chánh như : Chế độ Công vụ (nói về
quy chế công chức), Soạn thảo Công văn
(Soạn thảo văn kiện Lập pháp như Luật,
Sắc Lệnh, hay Lập quy như Nghị Định, Chỉ
Thị, Thông Tư…),Tổ chức cơ quan Hành Chánh {theo
công thức POSDCoRB “Planning, Organizing, Staffing, Developing,
Coordinating, Reporting, Budgeting của hành chánh gia Luther Gulick năm
1935 hay cập nhật hóa năm 1970 của hăng Westinghouse phối
hợp với Harvard Business School theo 3TKH “Tổ chức, Trù
hoạch, Thông đạt, Kiểm soát, Huấn Luyện”. Mỗi
chữ là một bài học}, Luật Ngân sách, Luật Thuế
vụ, Luật Quan thuế, Các vấn đề Hành Chánh
(Trưng dụng đất, Cơ quan Tự trị, Cơ
quan Quốc doanh,…); và một số môn khác. (Chính v́ đại học Luật
khoa và HVQGHC học giống nhau nhiều môn nên có một số
Đốc Sự đă tốt nghiệp Cử nhân Luật
và Đốc Sự cùng một năm)
Theo tài liệu [8,10] : Về chương
tŕnh học, với sự hỗ trợ của Institute of
Public Administration (IPA) tại New York , chương tŕnh học
tại Học Viện luôn cải tiến để sinh
viên tốt nghiệp có được những kiến thức
hiện đại về các lănh vực quản trị công
quyền, quản trị nhân sự, về các lănh vực
kinh tế, tài chánh, thuế vụ, về lănh vực quyết
định hành chánh, cũng như các kiến thức về
văn hoá và luật pháp quốc gia.
Không giống
như tại các trường đại học khác, sinh
viên HVQGHC ngoài việc theo dơi các bài giảng tại lớp học
có tánh cách lư thuyết, c̣n phải tham gia các buổi thuyết
tŕnh và hội thảo với các chánh khách và chuyên gia về
các đề tài chuyên môn.
Ngoài ra, sinh
viên c̣n đuợc đi thực tập sáu tháng tại các
cơ quan công quyền ở địa phương và trung
ương như một công chức thực sự.
Và để
chuẩn bị cho các viên chức tương lai biết sống
ḥa đồng với dân chúng, học tŕnh cũng đ̣i hỏi
các sinh viên phải tham gia vào các công tác xă hội hằng tuần
do Học viện tổ chức.
Theo tài liệu
[5] : V́ nhu cầu của
đất nước trong thời chiến, sinh viên tốt
nghiệp HVQGHC c̣n phải là cấp
chỉ huy kiêm cả văn lẫn vơ để khi phục
vụ tại địa phương có thể đối
phó với các vấn đề an ninh.
V́ vậy ,
các nam sinh viên HVQGHC phải theo các khóa huấn luyện quân sự .
Theo tài liệu
[6] : Từ năm 1952,
sinh viên các khoá Đốc Sự Đà Lạt và các khoá Đốc
Sự kế tiếp 1,2,3,4, thụ huấn quân sự tại
Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt trong lúc theo học
chương tŕnh hành chánh ở HVQGHC . Một
phần huấn luyện quân sự cho khóa 4 và toàn khoá 5
được chuyển qua huấn luyện tại Long Hải.
Sau khi tốt nghiệp các tân sĩ quan được lệnh
phuc vụ tại các quân khu trong thời gian sáu (6) tháng
trước khi được biệt phái về đảm
nhiệm các chức vụ hành chánh tại trung ương
hay địa phương.
Hơn nửa
theo tài liệu [9] : Khi học tại
Học viện cứ mỗi năm, vào dịp hè,
các nam sinh viên phải theo học lớp quân sự lúc th́ tại
vườn cao su Phú Thọ, lúc th́ tại xa lộ Biên Hoà,
lúc th́ tại Trung tâm huấn luyện Quang Trung của
chương tŕnh huấn luyện cấp Trung đội
trưởng .
Tài
liệu [5] cũng viết
tương tự như trên : Trong những tháng nghỉ hè , sinh viên phải đi thụ huấn quân
sự .
Theo tài liệu
[6] : Sinh viên các khoá Đốc
Sự 6,7,8, từ năm 1958, sau khi măn khoá, được
Bộ Quốc Pḥng động viên vào các khoá sĩ quan tại
Trường Sĩ Quan (Hạ Sĩ Quan ?) Hiện Dịch Đồng Đế,
Nha Trang.
Tài liệu [8,10]
cũng viết : Sau khi tốt nghiệp tại HVQGHC
,các nam sinh viên c̣n được gởi đi thụ huấn
về quân sự tại trường sĩ quan Thủ
Đức trước khi đi nhận nhiệm sở.
Theo tài liệu [5] : Từ khóa 11, các sinh viên phải tham dự
trọn một khóa trừ bị tại Thủ Đức
và được mang cấp bậc chuẩn úy sau khi học
xong .
Theo tài liệu
[6] : Đa số sĩ
quan gốc công chức được Bộ Quốc Pḥng cứu
xét, theo yêu cầu của các Bộ, Phủ, cho biệt phái
ngoại ngạch, “chiếu nhu cầu công vụ”, về
nhiệm sở cũ để đảm nhiệm các chức
vụ quan trọng tại trung ương và địa
phương để điều hành nền hành chánh quốc
gia.
Theo tài liệu
[8] : Từ năm 1960 trở đi ,với
sự yểm trợ của Đại học Michigan State
University (MSU), các sinh viên tốt nghiệp thủ khoa của
các khoá Đốc Sự hầu hết đă được
cấp học bổng để du học lấy bằng
Master tại Hoa kỳ, sau đó thủ khoa các khoá Cao Học
cũng được học bổng đi Mỹ học
lấy bằng Tiến Sĩ Ph.D.
Đa số
các cựu sinh viên có bằng Ph.D. và một số có bằng
Master tại Mỹ đă trở về giảng dạy cho
Học Viện.
Tài liệu [11] cũng viết
tương tự : ‘’ Lúc bấy giờ (năm nào không rơ
1963 hay trước đó ?) , HVQGHC có chương tŕnh cấp
phát học bổng cho các sinh viên đậu thủ khoa ở
các khóa học và sau hai năm ra làm việc, được
đi tu nghiệp ở Mỹ lấy bằng Cao Học, hoặc
Tiến Sĩ để rồi sau đó sẽ về phục
vụ cho HVQGHC’’.
Theo tài liệu
[10] : Học Viện Quốc
Gia Hành Chánh cũng là trung tâm phụ trách nghiên cứu hành
chánh và tu nghiệp quốc gia. Về tu nghiệp Hoc viện
phụ trách các chương tŕnh tu huấn cho chánh phủ
như chương tŕnh phát triển chỉ huy cao cấp,
chương tŕnh quản trị hành chánh cao cấp dành cho
các viên chức giữ các chức vụ cao tại các phủ
bộ, và chương tŕnh tu nghiệp cho cựu sinh viên
HVQGHC đă tốt nghiệp quá 5 năm.
Hơn nửa theo tài liệu [9] : Vào năm 1973 để hỗ
trợ cho công việc cách mạng hành chánh, giản dị
hóa thủ tục, Chính phủ
Việt Nam Cộng Ḥa đă thành lập Viện Quốc
Gia Tu Nghiệp để huấn luyện các kỹ năng
mà HVQGHC không có đủ thời gian huấn luyện cho
sinh viên, hay cập nhật những phương pháp quản
trị mới như “Phân tích quản trị” (job analysis,
job description). Chính nhờ một phần vào những cải
tiến này mà người dân được phục vụ
mau lẹ hơn trước nên giảm bớt sự sách
nhiễu, có thể xẩy ra.
Thành Quả
của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh :
Từ ngày
thành lập cho đến năm 1975, HV QGHC đă đào tạo
được:
5 khóa Tham Sự
Hành Chánh (1965-1970) với 622 sinh viên tốt nghiệp ;
5 khóa Tham Sự Cao Nguyên
và Đặc Biệt với số 189 sinh viên tốt
nghiệp và 1 khóa chưa ra trường.
Hơn nửa
theo tài liệu [9] :
Tham Sự
Cao Nguyên: có 4 khóa (1954-1959).
Tham Sự
Đặc Biệt: 1 khóa (1967).
Số sinh
viên tốt nghiệp các khóa Tham Sự Hành Chánh gồm :
Khóa 1 : 101 sinh viên tốt nghiệp
năm 1966;
Khóa 2 : 77 sinh viên tốt nghiệp
năm 1967;
Khóa 3 : 125 sinh viên tốt nghiệp
năm 1968;
Khóa 4 : 128 sinh viên tốt nghiệp
năm 1969;
Khóa 5 : 96 sinh viên tốt nghiệp
năm 1970 .
20 khóa Đốc
Sự với 1.630 (1650 ? tài liệu [9] ) sinh viên tốt nghiệp
và 3 khóa chưa ra trường ;
8 khóa Cao Học
với 299 (323? tài liệu [9] ) sinh viên tốt nghiệp và 2 khóa
chưa tốt nghiệp.
Đó là
chưa kể 527 sinh viên chưa kịp tốt nghiệp vào
năm 1975 gồm:
50 sinh viên
Tham Sự khóa Đặc biệt ;
316 sinh viên
Đốc sự các khóa 20, 21 và 22;
161 sinh viên
Cao Học khóa 9 và khóa 10.
Theo tài liệu
[12] : Khóa 2 Đốc
Sự của Trường có
năm nữ Đốc Sự đầu tiên tốt nghiệp : Đó là
các cô Lư Hoa, Nguyễn Thị Tuyết, Lê Thị
Nhơn, Nguyễn Thị Thuận, và trẻ nhất là Nguyễn
Cẩm Vân.
Tóm lại Học
Viện Quốc Gia Hành Chánh đă đào tạo gần 2.000
nhân viên hành chánh cao cấp, trên 800 nhân viên trung cấp;
không những đủ thay thế bộ máy hành
chánh thời Pháp thuộc mà c̣n giúp phát triển nền hành
chánh của quốc gia để theo kịp đà phát triển
của thế giới.
Tài liệu [3] cũng viết
tương tự như trên : Hơn hai ngàn (2000) sinh viên đă tốt nghiệp
tại HVQGHC từ khoá 1 Đốc Sự Đà Lạt nhập
học năm 1952 đến năm 1975.
Mặt
khác,theo tài liệu [9] : Với một quá tŕnh hiện diện
dài 23 năm, HVQGHC đă đào tạo được tổng cộng 2784 sinh viên .
Văn
Bằng Tốt Nghiệp Đốc Sự,
Trường Quốc Gia Hành Chánh, tiền thân
là Học Viện Quốc Gia Hành Chánh - H́nh
trích từ tài liệu [1]
Hơn nửa,theo
tài liệu [1] : Sau khi ra trường, các sinh viên
tốt nghiệp được bổ dụng đến
nhiều cơ quan từ Phủ Tổng Thống, Phủ
Thủ Tướng, Phủ Đặc ủy Trung
ương T́nh báo, Tổng Nha Ngân sách và các Bộ, Nha ở
trung ương cho đến các ty, các sở ở địa
phương và Phó tỉnh trưởng hoặc Phó quận
trưởng .
Những con
người trẻ và đầy nhiệt huyết đó
đă có mặt khắp mọi nơi trên đất nước
từ các thị thành an ninh đến những quận lỵ
xa xôi đầy hiểm nguy và khói lửa chiến tranh.
Những con
người đó đă đảm trách hầu hết các
chức vụ chỉ huy hành chánh từ trung cấp cho
đến cao cấp tại các cơ quan địa
phương cũng như trung ương.
Các sinh viên
Ban Đốc Sự và Cao Học đă phục vụ đắc
lực trong Chính Quyền từ địa phương
(Phó Tỉnh Trưởng, Phó Thị Trưởng, Phó Đô
Trưởng, Phó Quận Trưởng, Đaị Diện
Vùng, Trưởng Ty) đến trung ương ( Trưởng
Ty, Chủ sự, Chánh Sự Vụ, Giám Đốc, Tổng
Giám Đốc, Tổng Thư Kư, Đổng Lư Văn Pḥng,
Viện Trưởng, Phụ Tá Bộ Trưởng , Phụ
Tá Tổng Trưởng, Bộ Trưởng, Tổng
Trưởng, Thủ Tướng). Một số c̣n đảm
nhận các chức vụ nồng cốt thuộc hai ngành Lập
pháp (Dân Biểu, Nghị Sĩ, Chủ Tịch Hạ Viện,
Giám Sát Viên) và Tư pháp.
Cũng xin
ghi thêm ,theo tài liệu [9] : Học Viện QGHC
thời Đệ Nhất Cộng Hoà tuy là cơ quan “chủ
quản”, nhưng không dùng quyền lực để “kết
nạp đảng viên” mà giữ tính cách trung lập. Các học
thuyết chính trị như Maxist, Nhân vị, Tư bản…
được học nhưng không hướng dẫn sinh
viên phải lựa chọn một học thuyết nào cả.
Khi tốt nghiệp, các Đốc Sự được tự
do gia nhập các Đoàn thể Chính trị phù hợp với
sở thích và nguyện vọng của minh. Đa số
Đốc Sự không theo một đảng nào cả, kể
cả đảng của chính quyền.
Theo tài liệu
[9] :
1/-Có một
số cựu sinh viên HVQGHC giữ các chức vụ :
A-Tại
Trung Ương :
Thủ Tướng, Chủ Tịch
Hạ Viện : Nguyễn Bá Cẩn (Đốc Sự
khóa 1) ;
Phủ Thủ Tướng, các Bộ
trong Nội Các :
Phủ Thủ Tướng-Bộ
Trưởng Phủ Thủ Tướng : Bửu Viên (Đốc
Sự khóa 1) , Nguyễn Long Châu;
(Tên xếp theo thứ tự nhận lănh chức vụ theo
thời gian trước sau nhưng không nhất thiết
là kế vị,
và có trường hợp là nhân lănh chức vụ cùng một
lúc ) .
Bộ Nội
Vụ : Tổng Trưởng : Bửu Viên (Đốc Sự
khóa 1) ;
Bộ
Tài Chánh : Tổng Trưởng : Châu Kim Nhân ((Đốc Sự
khóa 2);
Bộ Lao
Động : Tổng Trưởng : Vũ Công ;
Phụ Tá
(PT) Bộ Trưởng tại
Phủ Thủ Tướng : Nguyễn Đ́nh Liễn, Triệu
Huỳnh Vơ (Đốc Sự khóa 6), Trương Thới;
Phụ Tá
(PT) Tổng Trưởng Bộ Tài Chánh : Cao Văn Hở;
Phụ Tá
(PT) Tổng Uỷ Công Vụ : Lê Cộng Truyền, bà
Trương Hoàng Lem;
Phụ Tá
(PT) Tổng Trưởng Thương Mại và Tiếp Tế
: Nguyễn Thanh Bạch ;
Phụ Tá
(PT) Tổng Trưởng Bộ Quôc Pḥng : Bửu Viên, Châu
Kim Nhân, Tôn Thất Chước;
Phụ Tá
(PT) Tổng Trưởng Bộ Kế Hoạch : Nguyễn
Duy Phước;
Phụ Tá
(PT) Tổng Trưởng Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi :
Triệu Huỳnh Vơ, Nguyền Quôc Thụy;
Phụ Tá
(PT) Tổng Trưởng Bộ Phát Triển Sắc Tộc
: Châu Văn Mỗ.
(Trong 2 Nội
Các Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Bá Cẩn);
Hơn
nửa theo tài liệu [7] :
Tổng Giám
Đốc Công Vụ ; Nguyễn
Xuân Liêm (Đốc Sự Khóa 1);
Tổng Giám
Đốc Ngân Khố : Bà Lư Hoa (Đốc Sự Khóa
2) ;
Các Thượng
Nghị Sĩ : Hoàng Xuân Hào (Đốc Sự Khóa 4), Lê Châu Lộc (Đốc Sự
Khóa 13);
Các Dân Biểu:
Phạm Duy Tuệ , Nguyễn Văn Quí (dân biểu nhiều
nhiệm kỳ tại đơn vị Hậu Nghĩa ),
Nguyễn Văn Tiết, Lê Tấn Trạng, Trương Vỹ
Trí ;
Các vị
Giám Sát Viên của Viện Giám Sát : Phạm Đ́nh Hưng, Lê Văn
Thêm, Lê Đ́nh Lăm …
B-Địa
Phương :
Tỉnh
Trưởng: Nguyễn Đ́nh Xướng Tỉnh Trưởng Vĩnh B́nh
thời Đệ Nhất Cộng Hoà và ông Nguyễn Trung
Thoại Tỉnh Trưởng Quảng Trị thời Đệ
Nhị Cộng Hoà.
Phó Tỉnh/Thị
Trưởng hành chánh (theo tài liệu [9] ) :
Trần Huỳnh Thanh (An Xuyên, Darlac,Phong Dinh,Sa Đéc);
Nguyễn Văn Tiên (Phú Bổn, B́nh Thuận, B́nh
Dương);
Trương Minh Nhuệ (Long Khánh);
Nguyễn Trọng Can (B́nh Long, Đà Lạt ) ;
Lê Văn Thêm (Chương Thiện, Kiên Giang,Định
Tường) ;
Nguyễn Thành Nhơn (Biên Hoà) (làm việc một thời
gian ngắn tại Phủ Đặc Uỷ và tỉnh
Chương Thiện, rồi thuyên chuyển phục vụ
tại tỉnh Biên Hoà từ Trưởng ty Nội An, Hành
Chánh, Chánh Văn Pḥng và Phó Tỉnh Trưởng cho tới
ngày 30 tháng 4-1975) ;
Trần Thanh Sử (Quảng Đức, B́nh Tuy) ;
Nguyễn Khai Sơn (Phước Long) ;
Nguyễn Ngọc Vy (Quảng Đức,Cam Ranh, Darlac)
;
Bùi Xuân Thích (B́nh Định,Qui Nhơn) ;
Nguyễn Vịnh (Chương Thiện, Phong Dinh) ;
Trần Dược Vũ (thị xă Cam Ranh) ;
Nguyễn Ngọc Vỵ (Quảng Đức ) ;
Phạm Gia Định (Kontum) ;
Quận Trưởng dân sự tại tỉnh B́nh
Định : Nguyễn Ngọc
Vỵ , Trần Dược Vũ ( khóa 3), Nguyễn Ngọc
Vỵ, (khóa 6) , Trần Hồng, Trương Văn Tuyên và
Phạm Gia Định (cùng khóa 8).
Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao : Thái Hà Chung . (Hồi
đó có 3 Phát ngôn viên: Đại tá Lâm đại diện
cho bộ Quốc Pḥng, Bùi Bảo Trúc đại diện bộ
Dân Vận, Thái Hà Chung đại diện bộ Ngoại
Giao tổ chức họp báo tại Trung tâm Báo Chí Quốc
gia trên đường Tự Do để giải thích
đường lối và chính sách của Chính Phủ cho kư
giả trong và ngoài nước).
C-Bên Quân Đội có 2 ngạch riêng biệt: “HIỆN
DỊCH” dành cho thành phần quân nhân t́nh nguyện và “TRỪ
BỊ” dành cho thành phần không t́nh nguyện, nhưng nhập
ngũ theo lệnh gọi động viên / tổng động
viên ) .
Tất cả các Đốc Sự đều thuộc
ngạch TRỪ BỊ dù được gởi thụ huấn
tại trường Vơ Bị Đà Lạt (từ khóa
Đà Lạt đến khóa 5), tại trường Hạ
Sĩ Quan Đồng Đế-Nha Trang (khóa 6,7 và 8), tại
trường Vơ Khoa Thủ Đức (từ khóa 9 trở về
sau).
Các Đốc Sự khi tốt nghiệp tại các
quân trường đều có cấp bậc Chuẩn Uư Trừ
Bị . Đa số (hơn 99%) Đốc Sự mang cấp
bậc Trung Uư Trừ Bị biệt phái .Theo tài liệu [9] : Cấp bậc
cao nhất trong quân đội của Đốc Sự là
Đại Uư (chỉ có một số ít) cho tới ngày
30-4-1975.
Học Viện Quốc Gia Hành Chánh đă đào luyện
nên những con người Việt
Nam, phục vụ đất nước với t́nh
đồng hương, nghĩa đồng bào trong ḍng sinh
mệnh của dân tộc.
Tất cả họ đă đóng góp không ít cho công cuộc
cải tổ và hoàn thiện guồng máy hành chánh quốc
gia cũng như công cuộc chiến đối đầu
với cộng sản xâm lược của Việt Nam Cộng
Ḥa.
Theo tài liệu [6] : Trong
thời gian thi hành công vụ, một số công chức xuất thân từ Học Viện
Quốc Gia Hành Chánh đă hy sinh v́ tổ quốc.
Theo tài liệu [2] : Sau
ngày mất nước 30/4/1975, Học Viện Quốc Gia
Hành chánh bị ngụy quyền cộng sản tịch thu
và đổi thành Học viện Hành chính Quốc
gia phân viện Thành phố Hồ Chí Minh
(Sic).
Phụ đề :
Sơ lược tiểu sử giáo sư Nguyễn Văn
Bông
Giáo sư Nguyễn Văn Bông năm 1967
-H́nh trích từ tài liệu [10]
Theo tài liệu
[13,14,15] : Ông Nguyễn Văn Bông sinh ngày 2 tháng 6 năm 1929, tại làng Kiểng Phước, tổng
Ḥa Lạc Hạ, Vàm Láng, bên bờ Sông Xoài Rạp, tỉnh G̣ Công. Thân sinh của
ông tên là Nguyễn Hiền
Năng vốn làm nghề thợ bạc, mẹ ông là một
thợ may. Hai người ly dị nhau khi ông mới lên 3, về
sau đều tái giá và có con riêng. Từ nhỏ, ông Bông
đă phải sống với ông bà nội.
Gia thế
Nguyễn Văn Bông là vậy, trong khi đó hầu hết
trí thức xứ Nam Kỳ Lục Tỉnh bấy giờ
xuất thân từ gia đ́nh quyền thế. Ông Bông thường
tâm sự: “ḍng họ không có ai học hành ra ǵ cả.”
Vươn lên thành ông Thạc Sĩ, đâu phải ai
cũng làm được như Nguyễn Văn Bông.
Từ nhỏ
ông đă có chí, học giỏi, rất thông minh và ḥa nhă với
mọi người nhưng nhà nghèo. V́ vậy, ông phải
làm việc từ lúc mới 12 tuổi để kiếm
thêm tiền đi học. Ông sửa xe đạp, quét trường học, phụ
đánh máy và nhiều việc lặt vặt khác để
có tiền trang trải cho việc học.
Đến
năm 1945 trường trung học Phan Thanh Giản Cần
Thơ đóng cửa, Nguyễn Văn Bông về quê Kiểng
Phước, rồi lên Sài G̣n . Thời gian ở Sài g̣n, ông
Bông cư ngự trong trường Lê Bá Cang
Sau mấy
năm làm việc để gom đủ số tiền mua
được một vé tàu hạng ba đi Pháp, ông rời
Việt Nam để thực hiện giấc mơ du học
ở Paris, Pháp.
Theo tài liệu
[15] : Lúc ông Bông chuẩn bị
sang Pháp du học, các người thân quen với ông Bông
ở trường Lê Bá Cang
đă hết ḷng giúp đỡ cho chuyến xuất
ngoại của ông.
Tại
Paris, ông được một người quen cho ở trọ
để tiếp tục học lấy bằng Tú Tài. Trong thời gian này,
để sinh kế, ông làm bồi bàn tại tiệm ăn La Table
du Madarins. Tại đây, ông làm quen với một sinh viên Việt Nam khác cũng đang làm
bồi bàn tại đây là Nguyễn Ngọc
Huy,
người đă sát cánh cùng ông trong các hoạt động
chính trị sau này.
Sau khi tốt
nghiệp Tú Tài, ông theo học ngành Luật và Chính trị học,
Đại học Sorbonne.
Trong thời
gian du học tại Pháp, ông đă được một
người cô ruột tên Nguyễn Thị Chín là một
thương gia ở Sài G̣n giúp đỡ, nhưng sự
giúp đỡ đó cũng quá ít ỏi so với tiền học
phí mà ông phải đóng cho trường.
Để
có tiền theo học, ông phải làm nhiều nghề, kể
cả khuân vác, giặt ủi. Do lao lực quá độ, có
thời gian ông làm phu khuân vác đêm tại Nhà Lồng Paris (Les Halles), đă bị nhiễm bệnh
lao, phải nằm bệnh viện một thời gian .
Với ư chí
và nỗ lực, ông tốt nghiệp Cử Nhân Luật
năm 1956, rồi Tiến
Sĩ Luật và Chính trị học năm 1960. Năm 1962 ông trở thành một trong số
rất ít giáo sư Việt Nam có bằng Thạc Sĩ Công
Pháp Quốc tế.
Theo tài liệu
[16] : Ông Nguyễn Văn Bông tốt
nghiệp loại ưu cấp Cử Nhân, Thạc Sĩ và
Tiến Sĩ tại trường đại học danh tiếng
của Pháp Sorbonne Université, chuyên ngành công pháp và sau đó là luật
học.
Đầu
năm 1963, ông quyết định về nước làm việc.
Trước khi về nước, ông đă hứa hôn với
một nữ sinh viên có tên là Lê Thị Thu Vân, người
sau này trở thành bạn đời của ông.
Theo
tài liệu [14] : Những ai may mắn
gần gũi với ông Nguyễn
Văn Bông chắc c̣n nhớ lúc mới về Sài G̣n, c̣n ở
tạm tại một khách sạn nhỏ trên đường
Kỳ Đồng, ông thạc sĩ độc thân, đẹp
trai hồn nhiên mặc chiếc áo thun rách 3 lỗ ra tiếp
đón bà con bạn bè đến mừng! Nguyễn Văn
Bông mộc mạc, thiệt thà, đơn giản, là con
người “trước sao, sau vậy”.
Sau khi về
nước, ông dạy môn Luật Hiến Pháp và Khoa Học
ChínhTrị tại trường
Đại Học Luật Sài g̣n.
Theo tài liệu
[15] : : Sau ngày giáo sư Bông về dạy tại trường
Luật, Sàig̣n, từ 1963 trở đi, các sinh viên ban Công
Pháp đă xem ông như là vị giáo sư cứu tinh của
họ, bởi lẽ ông đă giải tỏa được
sự tắt nghẽn, hay nói nôm na là hiện tuợng nút chặn
trên con đường tŕnh luận án Tiến Sĩ Công
Pháp. Thật vậy, trước đó số người
học tiếp và được cấp bằng Tiến
Sĩ Công Pháp gần như có tính cách nhỏ giọt, v́ sinh
viên đă gặp quá nhiều trở ngại đến nản
ḷng trong việc đi t́m ra người chịu nhận làm
giáo sư bảo trợ để làm luận án Tiến
sĩ Công Pháp. Lúc bấy giờ người có thẩm quyền
cao nhất bên Công Pháp là giáo sư
Vũ Quốc Thông. Đến khi giáo sư Bông về dạy tại đây, gần
như năm nào cũng đều có người tŕnh luận
án và đỗ bằng Tiến Sĩ Công Pháp. Lư do chính là do
giáo sư Bông đă thay thế
giáo sư Thông trong cương
vị đó.
Giáo
sư Nguyễn Văn Bông (phía
trước), giáo sư Nguyễn
Văn Tương, (bên phải) và giáo sư Tạ Văn Tài đến trao bằng
Tiến Sĩ cho một sinh viên Trường Luật – H́nh
trích từ tài liệu [15,16] :
Các sinh viên
có dịp học với giáo
sư Bông ở các lớp
Cao Học Luật cho biết
thêm là có nghe, giáo sư Bông giảng
bài bằng tiếng Pháp th́ càng thấy thán phục hơn nữa
truớc lối tŕnh bày quá lưu loát và sự “ngọt lịm”
trong lời văn của ông.
Theo tài liệu
[17] : Từ năm 1966 đến năm 1971 ,
ông Bông làm Phó Khoa Trưởng trường Đại Học
Luật Khoa, Sàig̣n.
Theo tài liệu
[14] : Ông Nguyễn Văn Bông từ Pháp
về nước lúc t́nh h́nh chánh trị ở miền Nam
Việt Nam đang trong thời kỳ xáo trộn : 18 trí thức
nhóm Tự Do Tiến Bộ bị đàn áp do bởi ngày 26
Tháng 4 năm 1960 nhóm này cho phổ biến tuyên ngôn yêu cầu
chánh phủ cải tổ ; Chính quyền Đệ Nhất Cộng Ḥa của Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm ra tay đàn áp các lực lượng
chống đối, bắt giam các chính khách đối lập
như Nhóm Caravelle, Nguyễn Tường
Tam...
Phật Giáo chống lại chánh sách kỳ thị tôn giáo của
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm lên cao điểm với vụ
tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức tại
ngă tư Lê Văn Duyệt - Phan Đ́nh Phùng lúc 11 giữa
trưa ngày 11 Tháng Sáu năm 1963...
Ông Nguyễn
Văn Bông dầu được chánh quyền mời về,
nhưng ông không e dè đăng đàn thuyết tŕnh đề
tài “Đối lập chánh trị trong chế độ dân
chủ” (Quyền Đối Lập Chính Trị theo tài liệu [15]) ngày 01 tháng 8 năm
1963, nhân buổi lễ khai giảng đầu niên học ở
trường Luật Sài G̣n, trước cử tọa gồm
viện trưởng, khoa trưởng, giáo sư cùng hàng
ngàn sinh viên.
Không kể
nội dung bài thuyết tŕnh, thái độ của người
thầy Nguyễn Văn Bông đă làm cho sinh viên cùng đồng
sự của ông nể trọng, kính phục.
Đây là một
đề tài mới mẽ, chưa ai chính thức và
công khai đề cập. Có thể nói, giáo sư Bông là
người đầu tiên đă phát động và kêu gọi
sự thực thi một chế độ dân chủ với
sự cho phép h́nh thành các lực lượng đối lập
chính trị, hoạt động tư do và công khai.
Bài diễn
văn khai giảng này của
giáo sư Bông được đăng trong Luật Học
Tập San và sau này trong quyển Luật Hiến Pháp do ông
biên soạn. Những ai có dịp đọc qua bài này đều
phải khâm phục về nội dung sâu sắc, phong phú của
bài viết, với sự trích dẫn các điển tích dí
dơm, lời văn trau chuốt đến độ không thể
thêm hoặc bớt một chữ nào trong câu văn của
ông.
Tên tuổi
của ông trở nên sáng chói trên chính trường sau khi ông
đọc bài diễn văn ‘’ Quyền Đối Lập
Chính Trị ‘’ .
Sau cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm
1963,
ông Bông được được bổ nhiệm làm Viện
trưởng HVQGHC thay thế giáo sư Vũ Quốc Thông .
Theo tài liệu
[14] : Làm Viện trưởng
Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, nơi đào tạo những
con người lănh đạo đất nước, những
ông quận trường, tỉnh trưởng, công chức
cao cấp... nhưng ông Nguyễn
Văn Bông không coi ḿnh là quan chức. Ông trước sau chỉ
là người thầy, người anh, người bạn
với mọi người kể cả học tṛ của
ông.. Rất nhiều sinh viên do ông đào tạo về sau nắm
giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền
Việt Nam Cộng Ḥa.
Ngoài chức
vụ Viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành
Chánh,ông c̣n đảm nhận
các chức vụ như sau :
Cố vấn cho Tối Cao Pháp Viện, Ủy viên Hội
Đồng Quản Trị Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam.
Đầu
năm 1964, ông thành hôn với bà
Thu Vân, người sinh viên đă rời bỏ nước
Pháp để về thành hôn với ông, dù ông "chỉ là
một giáo sư nghèo" hơn bà đến mười
tuổi.
Ông bà giáo
sư Nguyễn Văn Bông và các con – Sàig̣n 1964 – H́nh trích từ
tài liệu [16]
Theo tài liệu
[14] : Tới lúc này ông Viện
Trưởng Nguyễn Văn Bông vẫn thường về
quê, t́m món khô “hắc cấy”, món ngon đặc sản Vàm
Láng của ông. Nghe ông thích thú kể chuyện con hắc cấy,
chuyện làm gỏi da cá đuối mà tưởng chừng
đang nói chuyện với lăo nông, hay người đánh
cá.
Thep tài liệu
[15] : Ông Bông là một người trí thức
khoa bảng, một cấp lănh đạo trẻ trung
có tính t́nh rất xuề x̣a b́nh dị, và rất cởi mở.
Chính những đức tính nầy giúp ông chinh phục
được sự cảm mến và quí trọng của
bất cứ ai có dịp tiếp xúc hay gặp gỡ ông
ngay lúc sơ giao.
Theo tài liệu
[14] : Cung cách Nguyễn
Văn Bông đă thâu hút mọi người và làm mọi
người đến với ông. Rồi ông được
mời hoạt động, làm chánh trị, bởi anh em thấy
ở ông cái đức độ của con người
lănh tụ thật sư, có tấm ḷng, có cái Tâm. Ông làm chánh
trị như nhà tu hành thiền.
Từ
đây, ông bắt đầu có những hoạt động
chính trị nhằm tiến tới việc "thành lập
một chính đảng quốc gia" trên con đường
xây dựng "một nước Việt Nam thống nhất,
dân chủ với sự ủng hộ rộng răi của
người dân".
Thep tài liệu
[15] : Có thể nói, giáo
sư Bông là người đầu tiên đă phát động
và kêu gọi sự thực thi một chế độ dân
chủ với sự cho phép h́nh thành các lực lượng
đối lập chính trị, hoạt động tư do
và công khai. Cũng chính v́ sự tha thiết với chủ
trương đó, cuối năm 1968, ông cùng người bạn cũ
giáo sư Nguyễn Ngọc Huy (bấy giờ là một
trong những lănh đạo của đảng Tân Đại Việt ) đă thành lập
Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến ( PTQGCT) (Progressive National Movement), một lực
lượng chính trị đối lập với với
chính phủ của Tổng Thống Nguyễn
Văn Thiệu,
với thành viên đa số là học tṛ của ông.
Theo tài liệu
[16] : Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến
được sự hậu
thuẫn chính trị đông đảo từ sinh viên, công
chức và giới trí thức miền Nam Việt Nam.
Có nhiều
tranh căi về quan điểm chính trị của phong trào
này, song tính độc lập của phong trào được
thể hiện rơ.
Một số ghi nhận ngắn như của
New York Times th́ cho rằng PTQGCT ủng hộ chính phủ
đương quyền của Nguyễn Văn Thiệu,
nh́n chung có thể v́ Nguyễn Văn Bông có thái độ
chính trị chống Cộng khá rơ ràng.
Theo một
số tài liệu khác, như trong “ Di
cảo cố Giáo sư Nguyễn Văn Bông ”, đường
lối mà ông Bông đặt ra là gầy dựng một chính
quyền nhân dân phổ quát và dân chủ, hạn chế và từ
từ đi đến triệt tiêu chính quyền quân quản
đang tồn tại ở miền Nam Việt Nam. Vậy nên cũng có thể xếp
PTQGCT vào nhóm đối lập.
Thep tài liệu
[15] : : Vào các năm sau
đó, với sự lớn mạnh của PTQGCT mà giáo
sư Bông là Chủ Tịch của Chủ tịch Đoàn,
có nhật báo Cấp Tiến làm cơ quan ngôn luận của
Phong trào, chính giáo sư Bông
trong các bài viết đăng trên mục lập trựng
hay quan điểm, luôn kêu gọi dân sự hóa guồng máy
công quyền, nhất là ở cấp đô ( thành? ), tỉnh
(lỵ?), thị (xă?), trong thực tế, đă
và đang bị cấp lănh đạo đương
thời quân sự hóa với lư do v́ an ninh và nhu cầu b́nh
định v.v…
Đây là một
chủ trương lớn thứ nh́ sau lần ông kêu gọi
việc chấp nhận quyền đối lập chính trị
khi ông mới về phục vụ đất nước.
Chủ trương dân sự hóa guồng máy hành chánh của
ông có gây được tiếng vang, nhưng không thuyết
phục được cấp lănh đạo, các quân nhân vẫn
tiếp tục giữ vai tṛ quan trọng ở cấp
đô thị, các quận và đặc khu cho tới ngày
30/4/75.
Đóng góp lớn
nhất của ông, với sự cộng tác của
giáo sư Nguyễn Ngọc Huy là đă h́nh thành và phát triển
được thưc sự một lực lượng
đối lập chính trị, PTQGCT, đă đi vào sinh hoạt
chính thức trong chính trường lúc bấy giờ với
sự hiện diện của các dân biểu Khối Cấp
Tiến trong Quốc Hội, được đánh giá là
đối lập thực sự chứ không phải là
đối lập theo kiểu “lom khom”. Đa số các vị
dân biểu thuộc khối Cấp Tiến đều tốt
nghiệp hoặc trường Luật hoặc trường
Quốc Gia Hành Chánh như các ông Trần Minh Nhật (trường
Luật), Trương Vi Trí, Nguyễn Văn Quí, Nguyễn
Văn Tiết (trường Quốc Gia Hành Chánh) v.v…
Theo tài liệu
[17] : Từ năm
1968 đến năm 1971:
Ông Bông làm Chủ Nhiệm nhật báo Cấp Tiến và Nguyệt
San Cấp Tiến.
Theo
tài liệu [16] : Dù không trực tiếp
tham gia tranh cử năm 1968 -1969, PTQGCT phát triển mạnh mẽ và trở
thành một thế lực chính trị đáng nể (quan
trọng ?). Đây là lần đầu tiên một phe
nhóm chính trị gây được ảnh hưởng tại
miền Nam Việt Nam mà không lệ thuộc quá nhiều vào
tôn giáo, vùng miền hay là di sản kế thừa từ các
chính đảng già cỗi từ thời kháng Pháp.
Thành công của
PTQGCT khiến sau đó Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu mời ộng Nguyễn Văn Bông làm Thủ
Tướng cho nội các mới. Tại thời điểm
này, sau khi thực hiện thành công chính sách “Người cày
có ruộng”, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
đang mong muốn mở rộng nền tảng hậu
thuẫn và tính chính danh cho chính quyền mới, dần dần
dân sự hóa và ổn định môi trường chính trị
Việt Nam Cộng ḥa.
Theo
tài liệu [17] : Ngày 09 tháng 11 năm 1971, giáo
sư Bông chấp nhận chức vụ Thủ Tướng
dưới thời Đệ Nhị Cộng Ḥa.
Ba lần
bị mưu sát
Theo tài liệu
[15] : Do bởi uy tín
và thanh thế của giáo sư Bông ngày một lên cao, với
sự lớn mạnh của PTQGCT
lúc bấy giờ, có lẽ v́ thế mà sự an toàn của
ông đă bị đe dọa nhiều lần.
Theo tài liệu
[13] : Những
hoạt động chính trị tích cực của ông khiến
ông trở thành mục tiêu ám sát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền
Nam (
việt cộng - Sic) .
Hơn nửa
theo tài liệu [16] : Do sự kiện ông Bông
chấp nhận chức Thủ Tướng trong nội
các của Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu, bọn việt cộng đă phải tổ chức ám sát
ông vào cuối năm 1971
Lần thứ nhất (theo
tài liệu [15] ) : Khoảng
vài tháng sau cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân đợt
hai ở Sài G̣n phát động bởi bọn việt cộng,
vào ngày 26 tháng 11 năm 1968 ,kẻ địch, lợi dụng
cửa pḥng họp Hội Đồng Giáo Sư trong Học
Viện Quốc Gia Hành Chánh, sát vách pḥng làm việc của
Viện Trưởng, không có khóa, đă lén đặt chất
nổ trong pḥng nầy, cố ư sát hại giáo
sư Bông ở pḥng kế bên.
Nhưng ông chỉ bị xây xát nhẹ, mà không bị
thương tích trầm trọng.
Lần thứ
nh́ (theo
tài liệu [15] ) : Vào
năm 1970, tại công ốc của giáo sư Bông trên đường Phan Thanh Giản,
nằm đối diện trường Nữ Trung học
Gia Long, có một đêm cả nhà bị xông thuốc mê, tất
cả đồ đạc trong pḥng làm việc của giáo
sư Bông ở trên lầu
đều bị lục soát vất tung toé, nhưng mọi
ngựi ngủ trên lầu đều vô sự.
Lần thứ
ba (theo tài
liệu [13,15] ) : Vào ngày 10 tháng 11 năm 1971, trên đường
từ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh ở đường
Trần Quốc Toản về nhà ở đường
Phan Thanh Giản, khi xe của ông đang ngừng tại
đèn đỏ ngă tư Cao
Thắng - Phan Thanh Giản vào khoảng 12 giờ trưa, bọn
khủng bố việt công tổ trinh sát vũ trang Ban An ninh T4 , đă ném cái cặp chứa
4 kí lô chất nổ C4 được liên kết với
ba trái lựu đạn xuống gầm xe của ông .Giáo
sư Bông thiệt mạng cùng các cận vệ của
ông.Lúc đó ông mới 42 tuổi.
Hiện
trường vụ ám sát Giáo sư Nguyễn Văn Bông -
H́nh trích từ tài liệu [18]
Theo tài liệu
[17] : Mất vị giáo
sư Bông, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và trường Đại Học Luật Khoa Sài g̣n mất đi một vị
giáo sư ưu tú, một người thầy tận tụy,
một ân sư của lớp sinh viên trong giai đoạn
này. Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến cũng mất đi
một lănh tụ quan trọng, thu phục cảm t́nh quần
chúng, được giới thanh thiếu niên cùng
giới trí thức trẻ tâm phục. Miền Nam mất
đi một chính khách có uy tín trên chính trường quốc
nội và quốc tế để xây dựng một Miền
Nam Độc Lập - Tự Do - Tiến Bộ.
Theo tài liệu
[14] : Ông Nguyễn Văn
Bông ra đi, nói theo tạp chí Newsweek bấy giờ ,giới
luật pháp quốc tế mất đi một nhơn tài,
lịch sử Việt Nam đi vào khúc quanh.
Theo tài liệu
[13] : Sự kiện ông Nguyễn
Văn Bông bị ám sát không chỉ làm sụp đổ kế
hoạch thay đổi nhân sự của Việt Nam Cộng
Ḥa mà c̣n làm cho nội bộ chính quyền này nghi ngờ lẫn
nhau.
Theo tài liệu
[16] : Một số tác phẩm
mà giáo sư Nguyễn Văn Bông để lại có thể
kể đến tham luận “ Đảng Phái và Đối
Lập Chính Trị ”, và đặc biệt nhất là quyển
“ Luật Hiến Pháp và Chính Trị Học ” ,sách gối
đầu giường một thời của sinh viên Học
Viện Quốc Gia Hành Chánh, hiện đă được
trang Pro&Contra của nhà văn Phạm Thị Hoài số
hóa .
Tài liệu tham khảo :
1.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên
Mai Trần - Chứng chỉ và văn bằng
tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975 .
2.
https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Qu%E1%BB%91c_gia_H%C3%A0nh_ch%C3%A1nh Học Viện Quốc
Gia Hành Chánh .
3.
https://vnxuavanay.wordpress.com/tag/tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-qu%E1%BB%91c-gia-hanh-chanh/ Trường Quốc Gia Hành Chánh-Học Viện
Hành Chính .
4.
GS.
Huỳnh Công Ân- Các trưởng đại học ở miền
Nam trước 1975 (Phần 1) .
5.
https://quocgiahanhchanhmd.com/hoc-vien-quoc-gia-hanh-chanh-2/ Học Viện Quốc
Gia Hành Chánh- GS Cao Thị Lễ (Căn cứ theo Kỷ Yếu
Quốc Gia Hành Chánh 1952-1975 và Biên Khảo Học Viện
Quốc Gia Hành Chánh Sàigon ) .
6.
http://batkhuat.net/tl-hocvien-qghc.htm Học Viện Quốc
Gia Hành Chánh - Trần Xuân Thời .
7.
https://viendongonline.com/article/ky-niem-60-nam-thanh-lap-hoc-vien-quoc-gia-hanh-chanh-wH0zGien.html Kỷ niệm 60
năm thành lập Học Viện Quốc Gia Hành Chánh - Bài
Thanh Phong - 21/08/2015 .
8.
https://vietnamesecommunity.wordpress.com/2020/07/10/hoc-vien-quoc-gia-hanh-chanh-thoi-viet-nam-cong-hoa/ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh thời
Việt Nam Cộng ḥa - Bởi vietnamesecommunity - 10/07/2020 .
9.
https://phamtinanninh.com/?p=7023 Vài Nét Về Khóa 6
Đốc Sự Quốc Gia Hành Chánh – Nguyễn Đắc
Điều - Phạm Tín An
Ninh-
May 26, 2023 .
10. https://tinhomnay1.blogspot.com/2015/08/oi-dong-ve-hoc-vien-quoc-gia-hanh-chanh.html Đôi
ḍng về Học Viện Quốc Gia Hành Chánh VNCH - T/g
Sương Lam - August 22, 2015.
11. https://quocgiahanhchanhmd.com/2024/09/26/vai-net-ve-con-nguoi-cua-giao-su-nguyen-van-bong/ Vài Nét Về Con
Người Của Giáo Sư Nguyễn Văn Bông - Triệu
Huỳnh Vơ- Posted on September 26, 2024 .
12. https://qghc.wordpress.com/2024/03/31/nam-co-doc-su-dau-tien-cua-truong-quoc-gia-hanh-chanh/ Năm Cô Đốc Sự
Đầu Tiên Của Trường Quốc Gia Hành Chánh
- Trần Ngọc Tôn Khóa Đốc Sự 2 -Posted on March 31, 2024 by Ha Nhan .
13. https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_B%C3%B4ng Nguyễn Văn Bông .
14. http://www.hocxa.com/VanHoc/TacGia/NguyenVanBong-TaiNangDucDoVaBiKich_TranVanChi.php Văn Học - Giáo Sư Nguyễn
Văn Bông - Tài năng, đức độ và bi kịch -
Trần Văn Chí – 23/8/2024 .
15. https://quocgiahanhchanhmd.com/2024/09/26/vai-net-ve-con-nguoi-cua-giao-su-nguyen-van-bong/ Vài Nét Về Con
Người Của Giáo Sư Nguyễn Văn Bông - Triệu
Huỳnh Vơ- Posted on September 26, 2024 .
16. https://luatkhoa.com/2020/04/4-nhan-vat-dan-su-xuat-sac-cua-viet-nam-cong-hoa-co-the-ban-chua-biet/ 4 nhân vật dân sự
xuất sắc của Việt Nam Cộng Ḥa có thể bạn
chưa biết - Vơ Văn Quản - 18/04/2020 - Bài viết này nằm trong số
báo tháng Tư năm
2022
của Luật Khoa tạp chí, được phát hành trên ấn bản PDF ngày 26/4/2022 .
17. https://quocgiahanhchanhmd.com/2021/11/06/tuong-niem-giao-su-vien-truong-nguyen-van-bong-50-nam-nhin-lai-1971-2021
/Tưởng
Niệm Giáo Sư Viện Trưởng Nguyễn Văn Bông
– 50 Năm Nh́n Lại (1971-2021) -Posted on November 6, 2021 - Hội CSV QGHC Miền
Đông Hoa Kỳ .
18. https://www.voatiengviet.com/a/nguyen-van-bong-viet-nam-cong-hoa-ky-cuoi/5180194.html Vụ ám sát GS Nguyễn
Văn Bông: Cái kết được báo trước của
VNCH (kỳ cuối) - Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ .
08- Trường
Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ
-
Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành,
Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n
TM xin trân
trọng đề tặng bài
này tới các đồng môn lớp đệ nhất 5 niên
khóa 1971 trường Trung Học Kỹ Thuật Cao Thắng
Sàig̣n, đăc biệt là hai bạn hiền đă buông cái
Compas và cây thước Tê (T) để đeo cái ống chẩn bịnh
Stéthoscope nặng nề trách nhiệm :
Trương
Quyên : Bác sĩ toàn khoa tốt
nghiệp ờ Cộng Ḥa Liên Bang Đức ;
Bạch
Quang Minh : Hai (2) văn bằng
Tiến sĩ : Tiến sĩ kỹ sư và tiếp
theo đó Bác sĩ chuyên khoa Tai, Mũi, Họng, tốt nghiệp
ờ Cộng Ḥa Liên Bang Đức.
Trường
Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ được
mở ra vào năm 1956 và được chính thức hóa vào năm 1957, trực thuộc Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật - Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng
Ḥa. Trường nằm trong
khuôn viên của Trung Tâm này ở
khu Phú Thọ , đường Nguyễn Văn Thoại
và đường Tô Hiến
Thành,thuộc phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n.
Sau đây là
sơ lược thành lập Trường Kỹ Sư Công
Nghệ theo tài liệu [1,2,3,4] :
Theo tài liệu [1] : Trường Quốc
Gia Kỹ Sư Công Nghệ (KSCN) được thành lập
vào năm 1956, dựa theo chương tŕnh của trường
École Nationale D’Ingénieurs Des Arts Et Métiers (ENIAM) của Pháp. Hiện
nay tên mới của Trường ENIAM là École Nationale Supérieure D’Arts Et
Métiers (ENSAM).
Theo tra cứư
về các trường kỹ sư của Pháp, hiện nay
Pháp có 7 hay 8 ENSAM kể luôn
ENSAM tại Paris. Đây là những
trường rất có uy tín, thuộc vào loại Grandes
Écoles của Pháp. Tuy nhiên, người Pháp mà đại diện
là Mission Culturelle Pháp ở Sài g̣n (vào thời điểm thai nghén thành lập trường
KSCN), không muốn chúng ta (Việt Nam) dùng cùng một tên trường với
họ. Dịch ra Pháp văn
th́ tên trường KSCN là École Nationale D’Ingénieurs D’ Arts
Industriels (ENIAI).
Việt Nam
ta phải ghi tên Trường có kèm theo chữ Kỹ Sư
(Ingénieur) cho chắc ăn, chớ
nếu chỉ để tên là Trường Cao Đẳng….
(École Supérieure…) th́ cũng giống như Cao Đẳng Sư Phạm, Cao
Đẳng Mỹ Thuật …, rồi rủi ra Trường
KSCC không phát bằng Kỹ Sư .
Tôi (tác giả
tài liệu [1] ) c̣n nhớ buổi họp đầu
tiên giửa Ban Giám Đốc, sinh viên và ông Joris (có thể
viết sai) đại diện Cơ Quan Văn Hóa Pháp. Một sinh viên đă đăt câu
hỏi là sau khi tốt nghiệp, liệu sinh viên KSCN có
được xem tương đương với
Ingeniéur AM (Arts Et Métiers) của Pháp không, để tiếp
tuc học thêm các Đại Học bên Pháp. Một cách tế nhị, Ông Joris,
một Inspecteur của Enseignement Technique ở Pháp, đă trả
lời là ông chưa thể nói được. Có lẻ cũng ngoài thẩm quyền
của ổng.
Cho năm
1956, miền Nam Việt Nam chưa có một trường Kỹ
Sư nào có chương tŕnh đào tạo 4 năm giống
như phần đông ở các nước khác. Trường Kỹ Sư Công Chánh
có đào tạo “ Kỹ Sư ba năm”, Trường
Điện chỉ có chương tŕnh Cán Sự, Trường
Hóa Học chưa có. V́ vậy
khi có thông báo tuyển sinh viên vô KSCN, số thí sinh
tương đối khá đông so với cac ngành khác của
Đai Học Việt Nam lúc bấy giờ.
Vào thời
điểm này, ảnh hưởng Pháp c̣n rất mạnh ở
Việt Nam .Theo giáo sư Hoàng (không nhớ họ), khi Pháp
đề nghị giúp mở một trường Kỹ
Sư th́ phía VN xin trường
Arts Et Métiers (AM) v́ nghĩ rằng Kỹ sư AM khá uyển
chuyển, có thể làm việc ở nhiều lảnh vực khác nhau. Hiện nay KSCN có mặt ở
hầu hết các ngành nghề Việt Nam và cả khi ra ngoại
quốc, người KSCN cũng thich ứng nhanh chóng với
với các nghề cũ mới.
Nghe nói giáo
sư Hoàng, giáo sư Triêm , hai kỹ sư Công Nghệ tốt nghiệp ở
Pháp, là hai vị có nhiều công thuyết phục Pháp, Việt
trong viêc mở Trường KSCN Việt Nam. Hai vị giáo sư nầy cũng
có công trong việc mở chương tŕnh Tú Tài Kỷ Thuật
. Sau khi Trường
được mở một năm th́ tôi (tác giả tài liệu
[1] ) không c̣n nghe nói
ǵ về hai vị giáo sư này nửa, có lẻ họ là
công chức Pháp và đă về Pháp.
(Phụ
chú : Nhờ hai vị giáo
sư Hoàng, giáo sư Triêm mà TM cùng hàng ngàn học sinh
khác được theo học chương tŕnh Tú Tài Kỹ
Thuật Toán. So với chương tŕnh phổ thông Tú Tài Ban
B (Toán), chương tŕnh Tú Tài Kỹ Thuật Toán không thua
kém chút nào, chỉ thiếu có môn Vạn Vật và môn Sinh Ngử
hai (sinh ngử phụ) , tuy nhiên học sinh kỷ thuật
để có thể thi bằng Tú Tài Ban B, đă học thêm hai môn này ở ngoài
trường tư ).
Thầy
Giám Đốc đầu tiên trường Quốc Gia Kỹ
Sư Công Nghệ là Kỹ sư
Trần Văn Bạch .
Theo tài liệu [2] : Ông Trần
Văn Bạch tốt
nghiệp kỹ sư khóa
1935 của École National des Ponts et Chaussées de Paris ( Kiều
Lộ) .
Ông
được mời làm Tổng Trưởng
Công Chánh và Giao Thông Vận Tải trong nội các ngày 6
tháng 7 năm 1954 của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm.
Vì sự quan tâm
đặc biệt về tình trạng Giáo
dục Kỹ Thuật thực tế ở
Miền Nam, ông rời bỏ chức vụ Tổng
Trưởng Công Chánh và Giao Thông Vận Tải
để đãm nhiệm chức vụ Giám
Đôc Nha Kỹ Thuật Học Vụ, tiền thân của
Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ.
Theo tài liệu [5,6] : Ông kỹ sư Bạch là sáng lập viên và
kiêm chức giám đốc Trường Việt Nam Hàng Hải.
Ông vừa làm Giám Đốc vừa làm Giáo sư Tóan cho ban Chỉ
Huy (Pont).
Ông Bạch không những
là Giám Đốc trường Cao
Đẳng Kỹ Sư Công Nghệ và trường Việt
Nam Hàng Hải , ông còn
là giáo sư thỉnh giảng của
trường Đại học Khoa Học, trường
Cao Đẳng Nông Lâm Súc…
Ông
cũng là người đóng góp vào việc thành lập
trường Quốc Gia Thương Mại (École Nationale De
Commerce de Saigon) vào năm 1956. Trường này được dọn về khuôn viên Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật Phú Thọ năm 1965 .
Hầu hết các sinh viên
ngành Khoa học, Kỹ thuật đều là
học trò của ông. Kỹ sư Trần Văn
Bạch, một nhà giáo dục tận tâm,đã
đóng góp to lớn cho nền giáo dục
miền Nam.
Theo tài liệu [2] : Ông là một
người rất nhân từ, khiêm tốn.Ông cho nhiều học
sinh nghèo ở tỉnh theo học trường chuyên nghiệp
tại Sàig̣n, được phép vào trú ngụ trong mấy
cái xưởng không dùng đến.
Một
cựu học sinh tác già tài liệu [7] viết
như sau : ‘’ Năm 1956, tôi vào học lớp
Đệ Thất trường Kỹ
Thuật Phan Đ́nh Phùng, chi nhánh của Kỹ Thuật Cao
Thắng. Qua năm 1957,
tôi được ông Giám Đốc Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật
Học Vụ, Kỹ sư Cầu cống Trần Văn
Bạch cho tôi và một số học sinh khác tạm trú
trong khuôn viên của Nha ’’.
Ông người miền Nam, rất
b́nh dị ,sinh năm 1910, mất năm 1975.
Theo tài liệu [1] : Trường
KSCN năm đầu tiên tọa lạc tạm ở cuối
đường Phan Đ́nh Phùng, chung với Nha Kỹ Thuật
Học Vụ, gần như đâu mặt với Đài
Phát Thanh Sài g̣n .
Theo tài liệu
[7]: Lúc đó Nha Kỹ
Thuật Học Vụ gồm có Trung Học
Kỹ Thuật Phan Đ́nh Phùng gồm 5 lớp học
nằm dăi lớp sát đường Phạm Đăng
Hưng, một lớp Kỹ Sư Công Nghệ đầu
tiên của Việt Nam, nằm cuối dăi lớp .
Sinh viên ở vùng Chợ Lớn, mỗi ngày đi học
sẽ có dịp chạy xe gắn máy qua ngang Trường
Gia Long, Trường Marie Curie, chưa tới giờ học
th́ ngồi ở góc đường Phan Đ́nh Phùng và đường
Phạm Đăng Hưng nh́n vài cô Trưng Vương tha
thướt trong áo dài tím hay trắng qua ngang. Có những hôm học trể tới
sáu bảy giờ chiều, sinh viên c̣n có dịp xem và nghe mấy
cô Trường Quốc Gia Âm Nhạc học đờn, v́
đây cũng là trụ sở tạm của trường
nầy . Học đàn Piano phần nhiều là các
cô Marie Curie .
Theo tài liệu
[7]
:
Trường Quốc Gia Âm Nhạc do
nhạc sĩ Nguyễn Phụng làm Giám Đốc, sinh viên kỹ sư lớp Kỹ Sư Công Nghệ và học sinh Trung Học Kỹ Thuật Phan Đ́nh Phùng học ban
ngày, sinh viên Quốc Gia Âm Nhạc học ban đêm.
Theo tài liệu [4] : Chương tŕnh học ban đầu
của trường KSCN Việt
Nam lúc đầu dựa theo chương tŕnh của trường
École Nationale D’Ingénieurs Des Arts Et Métiers (ENIAM) của Pháp (hay
ENSAM), sau đó hiệu chỉnh hoàn thiện dần.
Sau đó Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ
(KSCN) được thành lập chính thức theo Nghị
định số 114-GD ngày 22/03/1957 và tổ chức theo Nghị
định số 374-GD ngày 23 tháng 03 năm 1957. Trường
Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ chỉ đào tạo Kỹ
sư 4 năm, không có ban cán sự.
Theo tài liệu [1] : Bắt đầu
năm thứ Hai (1957 ?) , trường KSCN dời về
Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ do Mỹ viện trợ
xây cất, và ở luôn tại đây cho tới ngày hôm nay
(1975? ). Tôi (tác gỉ tài liệu[1]
) c̣n nhớ, khi Trường dời
đi, Thầy Bạch lúc bấy giờ h́nh như không c̣n
giữ chức vụ ǵ nửa, có kể lại: "Qua
nói cho mấy em nghe, người ta dời trường KSCN
về đây (Phú Thọ) , Qua thấy không có lợi, v́ nếu
cứ để riêng KSCN th́ Pháp sẽ t́m một vị
trí khác cho Trường. Pháp không thích Mỹ . Như vậy, ḿnh sẽ có 2 Trung
Tâm Kỹ Thuật, họ tranh đua với nhau th́ ḿnh có lợi
hơn ‘’.
Theo tài liệu [4] : Trong thời gian mới thành lập,
từ khóa KSCN1 đến KSCN3, sinh viên phải đi học
và thực tập nhờ ở trường và công ty
như: Kỹ thuật Cao Thắng, Thực nghiệp, Hỏa
xa, Caric, Ba Son, Asam…
(Phụ chú : Caric là hăng sửa và đóng tàu của
người Pháp, nằm bên Thủ Thiêm,quận 9.
Ba Son là Hải Quân Công Xưởng nằm ở cuối Bến Bạch Đằng,quận
1. Asam là hảng làm đồ sắt, sau là tên là Hảng Sáo
Công Ty (?) nằm trên đường
Nguyễn Hửu Cảnh (Xóm Chùa), quận 1)
Năm 1957, giáo
sư Văn Đ́nh Vinh là người tham gia đặt
viên đá đầu tiên xây dựng Xưởng Công nghệ
(nay gọi là Xưởng C1). Toàn bộ thiết bị
xưởng do Pháp tài trợ và từ năm học 1962-1963
đă đưa máy móc và thiết bị từ Pháp về bắt
đầu lắp đặt vào Xưởng Công nghệ.
Theo Sắc lệnh số 213-GD ngày 29/6/1957, Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ ) -quận 10 - Sài g̣n)
được thành lập.
Và sau đó theo Công lệnh 1080 GD-CL ngày 07/08/1958, Trung Tâm
Quốc Gia Kỹ thuật ( Phú Thọ ) gồm bốn trường thành
viên là Cao Đẳng Công Chánh,
Hàng Hải, Cao Đẳng Công Nghệ và Cao Đẳng Điện . Khi
đó trường Quốc Gia Kỹ sư Công Nghệ
được chuyển đến ṭa nhà B4. Năm 1962,
Trường Cao Đẳng Hóa Học được thành
lập và cũng thuộc Trung tâm Quốc Gia Kỹ thuật.
Theo tài liệu [2] : Muốn vào học trường
KSCN, thí sinh phải có bằng Tú Tài ban
A (Vạn Vật) hay ban B (Toán) hay Tú Tài Kỹ Thuật
Toán và qua một cuộc thi tuyển khó khăn, chật
vật . Môn thi g̣m có Toán, Lư và
Hóa. Riêng thí sinh kỹ thuật phải thi thêm môn Kỹ Nghệ
Họa .Sau 4 năm tốt nghiệp sẻ
được cấp băng Kỹ Sư Công Nghệ.
Trường đào tạo các kỹ sư công nghệ các
ngành cơ khí, kỹ nghệ sắt, luyện kim, xe hơi
ô tô…
Theo tài liệu [4] : Trong
chương tŕnh học
Kỹ sư Công Nghệ, ngoài phần lư thuyết, sinh viên c̣n phải thực hành nhiều
giờ ở các xưởng
và pḥng thí nghiệm (PTN) như: Xưởng nguội - Máy dụng
cụ, Xưởng g̣ hàn, Xưởng mộc mẫu,
Xưởng Đúc- Luyện kim, Xưởng Động
cơ xe hơi và Máy phát điện, Xưởng Nhiệt
động lực học (Nhiệt lạnh)…. Các PTN
như: PTN Cấu trúc kim loại, PTN Đo lường, PTN
Vẽ thiết kế, PTN Sức bền vật liệu,
Cân bằng động, PTN Nhiệt luyện…. Thời gian
thực tập nhiều nhất là ở Xưởng nguội
- Máy dụng cụ. Sinh viên học mỗi tuần 3 buổi
trong 2 năm đầu thuộc chương tŕnh Kỹ
sư Công nghệ 4 năm.
Bên trong ṭa nhà
xưởng Công nghệ (C1) được phân nhiều khu
vực, mỗi khu vực là xưởng hoặc PTN kể
ra ở trên. Mỗi Xưởng, mỗi PTN đều có giảng
viên người Pháp và Việt Nam dạy thực tập
theo chương tŕnh của Pháp.
Cổng Trường
Cao Đẳng Công Nghệ và trường
Hàng Hải – Năm không xác định - H́nh từ
tài liệu [2]
Trường
Cao Đẳng-Công Nghệ- Ban Cơ Khí – Năm
không xác định- H́nh từ tài liệu [2]
Theo tài liệu [2,3,4] :
Đến
năm 1973, sau nhiều lần cải tổ cho phù hợp với
tiến tŕnh canh tân kỹ nghệ quốc gia, trường
KSCN được đổi tên là Cao Đẳng Công Nghệ
vẩn thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ)
.
Và
vào năm 1973 này, theo Sắc lệnh số 033-SL/GD ngày
21/03/1973 , Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ) đổi thành Viện Đại
Học Kỹ Thuật (Học Viện Quốc Gia Kỹ
Thuật- HVQGKT). Viện
Đại Học Kỹ Thuật này bao gồm sáu (6)
trường thành viên: Trường Cao Đẳng Công Chánh,
trường Cao Đẳng Công Nghệ , trường Cao
Đẳng Điện Học, trường Cao Đẳng
Hóa Học, trường Cao Đẳng Hàng Hải (Việt
Nam Hàng hải) và Trường Kỹ Thuật và Khoa Học
Căn Bản.
Theo tài liệu [2] : Đáng
chú ý, trường Kỹ thuật và Khoa học
căn bản được thành lập theo sắc lệnh
135SL/GD để hỗ trợ cho năm trường cao
đẳng thuộc HVQGKT. Trường Kỹ thuật và
Khoa học căn bản có nhiệm vụ giảng dạy
cho sinh viên năm thứ nhất các kiến thức về
kỹ thuật khoa học để sinh viên có thể theo
các ngành chuyên môn ở các năm tiếp theo (tại năm
trường cao đẳng c̣n lại). Học sinh có bằng
Tú Tài 2, ban B (Toán) hoặc Tú Tài
Kỹ thuật Toán của
trường Trung học Kỹ thuật Công nghiệp
được thi tuyển, nếu đậu sẽ học
năm thứ nhất tại trường này .
Tiếp
theo đó ,vào ngày 11/01/1974 với Sắc lệnh số
010-SL/VNGDTN, Viện Đại Học Kỹ Thuật (
trước đó là Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ))
là thành viên Viện Đại học Bách Khoa Thủ
Đức, với tên Trường Đại học Kỹ
thuật và chỉ đào tạo
hệ đại học.
Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức gồm
có 7 trường đại học thành viên, trong đó có 3
trường đă tồn tại
và hoạt động riêng rẽ trước đó (
đánh số 1, 2 vả 3) và 4
trường mới (đánh số 4,5,6,và 7) :
1.
Trường Đại học Kỹ Thuật
: Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ
Thuật Phú Thọ (1957), bao gồm
Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng
Điện Lực, Trường Kỹ Sư Công Nghệ,
và Trường Việt Nam Hàng Hải ;
2.
Trường Đại học Nông nghiệp:
Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Nông-Lâm-Súc, rồi Học viện Quốc
gia Nông Nghiệp (1972) ;
3.
Trường Đại học Giáo dục:
Tiền thân là Trung tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ
Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức ;
4.
Trường Đại học Kinh
Thương ("Kinh Thương" là viết tắt của
"Kinh tế và Thương mại");
5.
Trường Đại học Khoa học
Cơ bản ;
6.
Trường Đại học Thiết Kế
Thị Thôn ("Thị Thôn" là viết tắt của
"Thành thị và Nông thôn");
7.
Trường Sau Đại học (tiếng Anh: College
of Graduate Studies), điều phối các chương tŕnh
đào tạo bậc Cao Học và Tiến Sĩ.
(Xem thêm chi tiết trong bài Viện Đại Học
Bách Khoa Thủ Đức của cùng tác giả).
Theo tài liệu [8] : Rất tiếc, miền Nam sụp
đổ ngày 30/4/1975 kéo theo sự tan vỡ của một
kế hoạch phát triễn Viện Đại học Bách
Khoa Thủ Đức theo
hướng của các quốc gia tân tiến.
Theo tài liệu [4] :
Vào thời điểm này, trong khuôn viên của Viện
Đại Học Kỹ Thuật (Phú Thọ ) có hai trường.
Ranh giới giữa hai trường được xác
định theo hướng từ cổng xưởng
C1 nh́n thẳng ra cổng giữa đường Tô Hiến
Thành :
ü Phía bên
tay phải là khuôn viên của Viện Đại Học Kỹ
Thuật ;
ü Bên
phải (trái ? ) là khuôn viên của trường Đại học
Chuyên Nghiệp Trung cấp (tuyển khóa đầu tiên
1973).
Theo tài liệu [2] : Sau ngày mất nước
30/4/1975, cùng chung một số phận của miền Nam,
trường Kỹ Sư Công Nghệ, đă bị xóa tên và
tịch thu bởi Khoa Cơ Khí thuộc Đại Học
Bách Khoa Hà Nội.
Theo tài liệu [3,8,9] : Trải qua gần 20 năm
(1975) , trường KSCN đă góp phần rất lớn cho
đất nước trong việc đào tạo được 700 kỹ sư
chuyên viên và quản trị cho nền công nghiệp cũng
như các cơ quan kỹ thuật. Khắp nơi, từ
nhà máy điện, đường, giấy vải, xi
măng, v.v... cho đến các cơ quan hành chánh, giáo dục
( nhất là các trường trung học kỹ thuật
) và quân sự, đều có sự
hiện diện của kỷ sư công nghệ.
Mặc dầu trường KSCN không c̣n nửa, nhưng
tên Kỹ Sư Công Nghệ vẫn tồn tại và
được biết đến khắp nơi qua các
đóng góp của các anh chị em trong cũng như ngoài
nước.
Theo tài liệu [4] : Sau 30/4/1975, Viện Đại học Kỹ Thuật
được tạm thời mang tên Trường Đại
học Kỹ thuật Phú Thọ. Trên cơ sở của
Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ (KSCN)
và một số đơn vị
(?) Khoa Công Nghệ trường Đại học Chuyên Nghiệp
Trung cấp, Khoa Cơ Khí thuộc Trường Đại
học Kỹ thuật Phú Thọ được thành lập. Các bộ môn
trong khoa Cơ khí bao gồm: Bộ môn Công nghệ chế tạo
máy, bộ môn Máy chính xác, bộ môn Nguyên lư Chi tiết máy, bộ
môn Đúc - Luyện kim.
Theo Quyết định số 426/Ttg ngày 27/10/1976 của
ngụy quyền cộng sản , trường Đại
học Kỹ thuật Phú Thọ được mang tên
Trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM (Sic) . Và theo Quyết
định số 1003/QĐ-TC ngày 11/08/1977, Đại học
Bách Khoa Tp.HCM bao gồm sáu khoa: Khoa Cơ Khí; Khoa Điện;
Khoa Xây Dựng; Khoa Hóa; Khoa Thủy Lợi và Khoa Đào tạo
Tại chức.
Đến
năm 1978,theo Quyết định số 1030/QĐ-TC.ĐH
ngày 15/09/1978 của Bộ trưởng Bộ ĐH và THCN
(Sic), Khoa Cơ khí bị tách ra
thành hai khoa: Khoa Cơ khí và khoa Động Lực. Khoa
Độn Lực gồm ba Bộ môn: Nhiệt công nghiệp
(Cơ lưu chất – Nhiệt), Bộ môn Ô tô và Bộ môn
Máy xây dựng - nâng bốc.
Tài liệu
tham khảo :
1.
https://kysucongnghe.net/resource/baiviet/chutgidenho.htm C̣n Chút Ǵ Để Nhớ
- Nguyễn Văn Tân CN01 - Kỹ Sư Công Nghệ
khóa 1 (1956-1960) .
2. https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần -
Chứng chỉ và văn bằng tốt
nghiệp ở miền Nam trước 1975 .
3. https://www.kysucongnghe.net/dongthoigian.htm Ḍng Thời Gian ...
4. https://fme.hcmut.edu.vn/lich-su-khoa Lịch
sử h́nh thành Khoa Cơ Khí – Trường Đại Học
Bách Khoa .
5. Trường
Việt Nam Hàng Hải - Bùi Ngọc Hương – Cựu
Hoa tiêu sông Saigon - Ngày 06 tháng 3 năm 2006 -Posted by bienxua on September 26, 2017.
6. https://dongsongcu.wordpress.com/2017/09/28/truong-hang-hai-viet-nam-tu-nam-1940-den-nam-1953/
Trường Hàng Hải Việt Nam từ năm 1940 đến
năm 1953 - Bùi Ngọc Hương Cựu hoa tiêu sông
Sàig̣n - March, 2006 - Posted on September 28, 2017 by dongsongcu.
7. Huỳnh Ái Tông - Tản Mạn Về
Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ .
8.
GS. Huỳnh Công Ân – Các trường Đại
Học ở miền Nam trước 1975 (Phần 1).
9.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Qu%E1%BB%91c_gia_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật
Phú Thọ.
09 - Trường Quốc Gia Thương Mại - Đường Nguyễn
Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri
Phương,Quận 10-Sàig̣n
Trường Quốc Gia Thương Mại vào năm 1965
được dọn về
khuôn viên Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật - Bộ Giáo Dục
Việt Nam Cộng Ḥa ,ở khu Phú Thọ , đường
Nguyễn Văn Thoại và
đường Tô Hiến Thành,thuộc phường
Nguyễn Tri Phương,Quận
10-Sàig̣n.
Sau đây là sơ lược thành lập Trường Quốc Gia Thương Mại
theo tài liệu [1,2] :
Trường Quốc Gia Thương Mại
(École Nationale De Commerce de Saigon) được
thành lập vào giữa tháng 5 năm 1956 tại Sài G̣n, sau một
buổi tiếp xúc giữa ông Tổng Giám Đốc Nha Kỹ
Thuật Học Vụ Trần Văn Bách (Bạch ?) và giáo
sư Nguyễn Trọng Chiết (vào lúc đó Bộ Trưởng
Giáo Dục Việt Nam Cộng Ḥa là ông Nguyễn
Dương Đôn).
(Xem thêm chi tiết về ông
Trần Văn Bách (Bạch ?)
trong Phụ đề ) .
Trong thời điểm này, nhiều quốc gia trong
khối Đông Nam Á, kể cả Việt Nam, vẫn
chưa hề có một hệ thống giáo dục về
Thương Mại. V́ là trường dạy về
Thương Mại duy nhất trên toàn quốc nên đă
được đặt tên là Trường Quốc Gia
Thương Mại (QGTM).
Trường có mục đích đào tạo các sinh
viên thành những chuyên viên có kiến thức về hành
chính, tài chính và tổ chức
để đảm nhiệm những chức vụ quan
trọng cho nhà nước, và các doanh nghiệp thương
mại.
Trường QGTM được tổ chức dựa
theo khuôn khổ của Institut d'Enseignement Commercial -
Université de Grenobe tại Pháp, với các môn học chính:
a)
Tài
Chính;
b)
Kinh
Tế ;
c)
Thương
Mại ;
d)
Luật
.
Chương
tŕnh giáo dục của Trường QGTM được giáo
sư Chiết soạn thảo là một chương tŕnh
hoàn toàn mới, dựa theo học tŕnh của các trường
Cao Đẳng Thương Mại tại Pháp, và được
phân chia thành bốn chứng chỉ:
1.
Chứng
chỉ Kiến Thức Thương Mại căn bản;
2.
Chứng
chỉ Kinh Tế;
3.
Chứng
chỉ Nội Thương gồm có: Thuế Vụ, và Quan
Thuế ;
4.
Chứng
chỉ Ngân Hàng gồm có: Tài Liệu Xuất Cảng Khẩu,
Thủ Tục về Tín Dụng, Bảo Hiểm, và Cách thức
Thanh toán.
Xen vào các chứng
chỉ trên là các môn sinh ngữ Anh Văn, Pháp Văn, và vài
căn bản về tổ chức như Phương Pháp
Khoa Học về Công việc, vẽ họa đồ, sắp
xếp tài liệu.
Kiến thức
sinh viên cũng được bổ sung với tài liệu
về Kế toán Tồn kho, Toán Tài chính, v.v... Chương
tŕnh này tương đương với chương tŕnh
Cao đẳng tại Pháp và chương tŕnh của các
College of Business tại Hoa Kỳ.
Khởi
đầu, Trường QGTM có trụ sở tại số
2,đường Phạm Đăng Hưng, khu Đakao-quận
1, trong khuôn viên Nha KỹThuật Học Vụ. Cuối
năm 1965, trường được dọn về trụ
sở mới tại số 268 đường Nguyễn
Văn Thoại, nằm trong khuôn viên của Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ thuật Phú Thọ.
Bắt
đầu từ niên khóa 1973-1974, Trường Quốc Gia
Thương Mại trở thành Khoa Thương Mại -
Trường Đại Học Chuyên Nghiệp Trung Cấp
thuộc Viện Đại Học Sài G̣n (chương tŕnh
được phỏng theo hệ thống Junior College của
Hoa Kỳ). Thí sinh có bằng Tú Tài
2 phải qua một cuộc
thi tuyển gồm các môn Toán Lư Hóa và Kiến thức phổ
thông để thành Khóa sinh khoa Thương Mại.
Trường
Quốc Gia Thương Mại - Sài G̣n đă đào tạo
được 19 khóa chuyên viên cho đến ngày 30/4/1975 th́
bị đ́nh chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Lúc ấy, các sinh viên khóa 19 đang học dang dở
được 1 năm, th́ phải bị thuyên chuyển
sang các khoa kỹ thuật khác của Trường Đại
Học Bách Khoa.
Sinh viên tốt
nghiệp Trường Quốc Gia Thương Mại - Sài
G̣n, đă đem những kiến thức chuyên môn học hỏi
được, đóng góp vào hầu hết mọi cơ cấu
sinh hoạt trong nước : Quan Thuế, Thuế Vụ,
Ngân Hàng, Doanh Nghiệp…
Tóm tắc
những dấu mốc quan trọng :
05-1956
Trường Quốc Gia Thương Mại (Ecole Nationale De
Commerce de Saigon) được thành lập ;
1961 Giáo
sư Phạn Hữu Tài làm Giám Đốc;
1965 Dời
về số 268, đường Nguyễn Văn Thoại,
Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ;
1973 Trường
Quốc Gia Thương Mại trở thành Khoa Thương
Mại thuộc trường Đại Học Chuyên Nghiệp
Trung Cấp – Viện Đại Học Sài g̣n tại Phú Thọ;
05-1975 Ngừng
hoạt động (hay bị đóng cửa) .
Sinh viên
trường Quốc Gia Thương Mại – Năm
không xác định – Hính trích từ tài liệu [2]
Phụ
đề : Vài hàng về Kỹ sư Trần Văn Bạch
Theo tài liệu [2] : Ông Trần
Văn Bạch tốt
nghiệp kỷ sư khóa
1935 của École National des Ponts et Chaussées de Paris ( Kiều
Lộ) .
Ông được mời
làm Tổng Trưởng Công Chánh và Giao Thông Vận Tải
trong nội các ngày 6 tháng 7 năm 1954 của Thủ
Tướng Ngô Đ́nh Diệm.
Vì
sự quan tâm đặc biệt về tình
trạng Giáo dục Kỹ Thuật thực
tế ở Miền Nam, ông rời bỏ
chức vụ Tổng Trưởng Công Chánh và Giao
Thông Vận Tải để đãm nhiệm
chức vụ Giám Đôc Nha Kỹ Thuật Học
Vụ, tiền thân của Trung Tâm Quốc Gia Kỹ
Thuật Phú Thọ.
Ông là Giám
Đốc đầu tiên Trường Quốc Gia Kỹ
Sư Công Nghệ thành lập năm 1957.
Theo tài liệu [3,4] : Ông Trần
Văn Bạch c̣n là sáng lập viên và kiêm chức giám đốc
Trường Việt Nam Hàng Hải. Ông vừa làm Giám Đốc vừa làm Giáo sư Tóan cho ban Chỉ
Huy (Pont)
Ông Bạch không
những là Giám Đốc trường Cao
Đẳng Kỹ Sư Công Nghệ và trường Việt
Nam Hàng Hải , ông còn
là giáo sư thỉnh giảng của
trường Đại học Khoa Học, trường
Cao Đẳng Nông Lâm Súc…
Ông cũng là người đóng góp
vào việc thành lập Trường Quốc Gia
Thương Mại (École Nationale De Commerce de Saigon) vào năm
1956. Trường này được dọn về khuôn viên Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật Phú Thọ năm 1965 .
Hầu
hết các sinh viên ngành Khoa học, Kỹ thuật
đều là học trò của ông. Kỹ sư
Trần Văn Bạch, một nhà giáo dục
tận tâm,đã đóng góp to lớn cho
nền giáo dục miền Nam.
Theo tài liệu [2] : Ông là một
người rất nhân từ, khiêm tốn.Ông cho nhiều học
sinh nghèo ở tỉnh theo học trường chuyên nghiệp
tại Sàig̣n, được phép vào trú ngụ trong mấy
cái xưởng không dùng đến.
Trong tài liệu [5],một cựu học
sinh trường Cao Thắng
cũng viết tương tự như trên :
‘’ Năm 1956, tôi vào học lớp Đệ Thất Trường
Kỹ Thuật Phan Đ́nh Phùng, chi nhánh của Kỹ
Thuật Cao Thắng. Qua năm 1957,tôi được ông Giám
Đốc Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học
Vụ, Kỹ sư Cầu Cống Trần Văn Bạch cho tôi và một số
học sinh khác tạm trú trong khuôn viên của Nha ’’.
Ông người
miền Nam, rất b́nh dị ,sinh năm 1910, mất năm
1975.
Tài liệu
tham khảo :
1.
https://qgtm-usa.blogspot.com/2014/01/lich-su-truong-quoc-gia-thuong-mai-sai.html Lịch Sử Trường
Quốc Gia Thương Mại – Sài G̣n - Trường Quốc
Gia Thương Mại- Sài G̣n (École Nationale De Commerce de
Saigon) - Saturday, January 11, 2014 .
2.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần -
Chứng chỉ và văn bằng tốt
nghiệp ở miền Nam trước 1975 .
3.
Trường
Việt Nam Hàng Hải - Bùi Ngọc Hương – Cựu
Hoa tiêu sông Saigon - Ngày 06 tháng 3 năm 2006 -Posted by bienxua on September 26, 2017.
4.
https://dongsongcu.wordpress.com/2017/09/28/truong-hang-hai-viet-nam-tu-nam-1940-den-nam-1953/ Trường Hàng Hải
Việt Nam từ năm 1940 đến năm 1953 - Bùi
Ngọc Hương Cựu hoa tiêu sông Sàig̣n - March, 2006 -
Posted on September 28, 2017 by dongsongcu.
5.
Huỳnh Ái Tông - Tản Mạn Về
Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ .
10 -
Trường Cao Đẳng Điện Học - Đường Nguyễn
Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri
Phương,Quận 10-Sàig̣n
Trường
Cao Đẳng Điện Học được thành lập
vào năm 1957 trực thuộc
Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ - Bộ Giáo Dục
Việt Nam Cộng Ḥa. Trường nằm trong khuôn viên của Trung Tâm này ở khu Phú Thọ
, đường Nguyễn Văn Thoại và đường Tô Hiến Thành,thuộc
phường Nguyễn Tri
Phương,Quận 10-Sàig̣n.
Sau đây là
sơ lược thành lập trường Cao
Đẳng Điện Học
:
Đến tháng 01 năm 1949 ,
KNVVTĐ trở thành trường
Vô Tuyến Điện (École de Radio - Électricité) , đào tạo
kỹ thuật viên vô tuyến điện (2 năm), điện
tín viên, trắc lượng viên, chuẩn bị các kỳ
thi về hàng hải và hàng không.
Năm 1950, Trường Vô Tuyến
Điện trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo dục,
sau đó là Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ.
Năm 1957, Trường Vô Tuyến Điện được
sát nhập làm thành viên của Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật
Phú Thọ và được
đổi tên là trường Cao Đẳng Điện Học.
Trường đào tạo kỹ sư điện, cán sự
điện và điện tử, huấn luyện trung cấp
và thợ chuyên môn cho các xí nghiệp công tư và quân nhân của
Bộ Quốc Pḥng.
Trường
Cao Đẳng Điện Học – Năm không xác định
-H́nh trích từ tài liệu [2]
Theo tài liệu [3] :
Trường Cao Đẳng Điện Học có 2 ngành:
Điện năng và Điện tử.
Ngành điện
năng thiên về giảng dạy sản xuất điện
năng, phân phối cũng như kiểm soát việc phân
phối điện năng. Ngành điện tử chú trọng
nhiều về điện kỹ nghệ truyền thanh và
truyền h́nh, sau đó mở thêm ngành viễn thông để
cung cấp chuyên viên cho ngành bưu điện.
Điều
kiện để dự thi vào Trường Cao Đẳng
Điện Học : Thí sinh phải có Tú Tài Toán, hoặc Tú
Tài Kỹ Thuật Toán hay một văn bằng tương
đương. Tất cả thí sinh sẽ thi cùng môn với
nhau, khi ghi danh sẽ chọn từng ban học nhưng sẽ
thi chung, đến khi sắp hạng trúng tuyển th́
được sắp theo từng ngành học (tức là
các Trường trực thuộc Trung tâm là Công Chánh, Công Nghệ,
Hàng Hải, Điện, Hóa). Thí sinh thí hai môn chính là Toán và Lư
Hóa, thời gian thi là 4 tiếng.
Sinh viên
Trường thường có chương tŕnh học rất
nặng. Hàng tuần phải thêm 40 tiếng đồng hồ,
cần có những sinh hoạt giải trí, thể thao,
văn nghệ xă hội, nên Trung tâm có một Phụ tá Sinh
viên vụ đặc trách vấn đề này. Trong lúc học,
sinh viên học cấp kỹ sư, và sinh viên cấp cán sự
từ năm thứ 2, đều bắt buộc có 1-2 tháng
tập sự (nay gọi là thực tập) tại các công
ty như Điện lực Việt Nam, Xi măng Hà Tiên, hay
Đài Truyền h́nh. Thời gian tập sự đó giúp
sinh viên hiểu rơ hơn về môi trường làm việc
trong tương lai. Sau mỗi kỳ tập sự, sinh viên
phải làm một bản phúc tŕnh gửi về trường
để chấm điểm.
Sau đại
học, sinh viên tốt nghiệp ưu tú, hay những ai có
mong muốn học tiếp th́ sẽ được nhà
trường giới thiệu với các đại học
nước ngoài.
Cổng
Trường Cao Đẳng Điện Học – Năm
không xác định -H́nh trích từ tài liệu [2]
Theo tài liệu [2] : Theo sắc lệnh số 135SL/GD
ngày 15 tháng 9 năm 1972 của chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa, Trung tâm Quốc
Gia Kỹ thuật (Phú Thọ) được đổi
tên là Học viện Quốc gia Kỹ Thuật (HVQGKT) ( hay
Viện Đại Học Kỹ Thuật) gồm sáu
trường thành viên : Trường Kỹ Thuật và
Khoa Học Căn Bản, trường Cao Đẳng Công
Chánh,trường Cao Đẳng Công Nghệ (Quốc Gia Kỹ
sư Công Nghệ), trường Cao Đẳng Điện
Học,trường Cao đẳng Hóa Học, trường
Cao Đẳng Hàng Hải (Việt Nam Hàng hải).
Trường
Kỹ Thuật và Khoa Học Căn Bản được
thành lập theo sắc lệnh 135SL/GD để hỗ trợ
cho năm trường cao đẳng thuộc HVQGKT. Trường
này có nhiệm vụ giảng dạy cho sinh viên năm thứ
nhất các kiến thức về kỹ thuật khoa học
để sinh viên có thể theo các ngành chuyên môn ở các
năm tiếp theo (tại năm trường cao đẳng
c̣n lại). Học sinh có bằng Tú Tài 2, ban B (Toán) hoặc Tú Tài Kỹ thuật Toán của trường trung học
Kỹ thuật được thi tuyển, nếu đậu
sẽ học năm thứ nhất tại trường
này .
Và chỉ khoảng
vài tháng sau ,Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức
được thành lập
theo Sắc lệnh số 083-SL/GD ngày 30/04/1973 .
Năm
1973-1974, trường Cao Đẳng Điện Học chỉ
đào tạo kỹ sư, c̣n
cấp cán sự điện được chuyển qua
trường Đại học Chuyên nghiệp Trung cấp.
Tiếp theo
đó ,vào ngày 11 tháng 01 năm 1974 với Sắc lệnh số
010-SL/VNGDTN, Học viện Quốc gia Kỹ Thuật (HVQGKT) ( trước đó là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật
(Phú Thọ)) là thành viên Viện
Đại học Bách Khoa Thủ Đức, với tên trường
Đại học Kỹ thuật
và chỉ đào tạo hệ đại học.
Viện Đại
Học Bách Khoa Thủ Đức gồm có 7 trường
đại học thành viên, trong đó có 3 trường
đă tồn tại và hoạt
động riêng rẽ trước đó ( đánh số 1,
2 vả 3) và 4 trường mới
(đánh số 4,5,6,và 7) :
1.
Trường Đại học Kỹ Thuật
: Tiền thân là Trung
Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ (1957),
bao gồm Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường
Cao Đẳng Điện Lực, Trường Kỹ
Sư Công Nghệ, và Trường Việt Nam Hàng Hải ;
2.
Trường Đại học Nông nghiệp:
Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Nông-Lâm-Súc, rồi Học
viện Quốc gia Nông Nghiệp (1972) ;
3.
Trường Đại học Giáo dục:
Tiền thân là Trung tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ
Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức ;
4.
Trường Đại học Kinh
Thương ("Kinh Thương" là viết tắt của
"Kinh tế và Thương Mại’’);
5.
Trường Đại học Khoa học
Cơ bản ;
6.
Trường Đại học Thiết Kế
Thị Thôn ("Thị Thôn" là viết tắt của
"Thành thị và Nông thôn");
7.
Trường Sau Đại học (tiếng
Anh: College of Graduate Studies), điều phối
các chương tŕnh đào tạo bậc Cao Học và Tiền
sĩ.
(Xem thêm chi tiết
trong bài Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức
của cùng tác giả).
Theo tài liệu [4] :
Rất tiếc, miền Nam sụp đổ ngày
30/4/1975 kéo theo sự tan vỡ của một kế hoạch
phát triễn Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức theo hướng của các quốc
gia tân tiến.
Theo tài liệu [4,5] : Tính đến năm 1975
th́ trường Cao Đẳng Điện Học đào tạo
được 890 chuyên viên.
Trường
Cao Đẳng Điện Học-Năm 1986 - H́nh trích từ
tài liệu [3]
Cổng
trường Cao Đẳng Điện Học-Năm
1986 - H́nh trích từ tài liệu [3]
Tài liệu
tham khảo :
1.
http://startup.gov.vn/Pages/NguonNhanLuc.aspx?ItemID=91
2.
Bộ
Khoa Học và Công nghệ - Trường Đại học Bách Khoa TP. HCM - 14/08/2018.
3.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần -
Chứng chỉ và văn bằng tốt
nghiệp ở miền Nam trước 1975 .
4.
https://chuyenxua.net/lich-su-thanh-lap-trung-tam-quoc-gia-ky-thuat-phu-tho-cua-sai-gon-xua-nay-la-dai-hoc-bach-khoa/ Lịch sử thành lập
Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ của Sài G̣n
xưa (nay là Đại học Bách Khoa) Sài G̣n xưa -
Đông Kha – chuyenxua.net .
5.
GS.
Huỳnh Công Ân – Các trường Đại Học ở miền
Nam trước 1975 (Phần
1).
6.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Qu%E1%BB%91c_gia_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D Trung tâm Quốc gia Kỹ
thuật Phú Thọ .
11 -
Trường Cao Đẳng Hóa Học - Đường Nguyễn
Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri
Phương,Quận 10-Sàig̣n
Trường
Cao Đẳng Hóa Học được thành lập
vào năm 1962 trực thuộc
Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật - Bộ Giáo Dục Việt
Nam Cộng Ḥa. Trường nằm
trong khuôn viên của Trung Tâm này
ở khu Phú Thọ , đường Nguyễn Văn Thoại
và đường Tô Hiến
Thành,thuộc phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n.
Sau đây là
sơ lược thành lập Trường Cao Đẳng
Hóa Học :
Theo tài liệu [1 2,3] :
Năm 1962,
trường Cao Đẳng Hóa Học được thành
lập trong khuôn viênTrung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật. Vào những năm đầu , trường
này mặc dầu mang tên Cao Đẳng nhưng chỉ
đào tạo cán sự hóa học
cho 2 ngành là cán sự pḥng thí nghiệm và ngành sản suất. Thí thí sinh dự thi
tuyển chỉ cần bằng Tú Tài 1
trở lên.
Tới
năm 1968, trường được nâng lên bậc Cao Đẳng.Bên cạnh việc
đào tạo cán sự hóa học
, trường c̣n đào tạo
kỹ sư hóa học. Thí sinh dự thi
tuyển vào chương tŕnh
kỹ sư phải có bằng Tú tài
2, ban B (Toán) hay Kỹ Thuật
Toán . Sau 4 năm, sinh viên tốt nghiệp
được cấp bằng Kỹ Sư Hóa
Học.
Theo tài liệu [1] : Mục
đ́ich của trường nhằm đào
tạo chuyên viên trung và cao cấp cho sự phát triển
và sự sáng tạo của Kỹ
Nghệ miền Nam Việt Nam :
-Hổ
trợ và cung ứng nhu cầu cần thiết
cho cuộc sống hàng ngày: Giấy , Sơn,
Thuỷ Tinh, Xi măng, Diêm quẹt ;
Hổ
trợ hoat động sản xuất căn bản
Canh Nông, Kỹ Nghệ Biến Chế kim loại, Kỹ
Nghê Dệt, Kỹ Nghệ Dược Phẩm, Thực Phẩm;
-Hổ
trợ và phát triển các khu Công Nghệ
như Khu Biên Hoà, An hòa, Nông Sơn, Phong Dinh, Cam Ranh,
Nhà Bè, Nha Trang.
Theo tài liệu [4] : Sau đó, kể
từ năm 1973 - 1974, Trường chỉ c̣n đào tạo
kỹ sư, không đào tạo cấp cán sự.
Sau đây là
danh sách các vị giám đốc
trường Cao Đẳng Hóa Học từ
lúc mới thành lập tới năm 1975 trích từ tài liệu [5] :
1. Thầy
Lê Sĩ Ngạc, Giám đốc, giai đoạn 1962-1963 (Thầy
c̣n là Giám đốc của cả Trung tâm Quốc gia Kỹ
thuật và Giám đốc Trường Công Chánh, Thầy mất
năm 2003 tại Hoa Kỳ) ;
2. Thầy
Đinh Văn Hoàng, Giám đốc, giai đoạn 1963-1965
(Thầy mất năm 2011 tại Pháp);
3. Thầy
Trương Công Hiếu, Giám đốc , giai đoạn
1965-1967 (Thầy đang sống tại Canada);
(Xem thêm
sơ lược tiểu sử giáo sư Trương Công
Hiếu trong Phụ đề );
4. Cô
Dương Hải Đường, Giám đốc, giai
đoạn 1967-1968 (Cô mất năm 2019 tại Sài g̣n);
5. Thầy
Hoàng Huân Định, Giám đốc, giai đoạn 1968-1970
(Thầy đang sống tại Hoa Kỳ);
6. Thầy
Ngô Thế Hùng, quyền Giám đốc, giai đoạn 1970
(Thầy đang sống tại Hoa Kỳ);
7. Cô
Dương Hải Đường, Giám đốc, giai
đoạn 1970-1972 (Cô mất năm 2019 tại Sàig̣n);
8. Thầy
Đặng Hữu Phước, Giám đốc, giai đoạn
1972-1975 (Thầy đang sống tại Úc).
Theo tài liệu [1] : Phần đông sinh viên
tốt nghiệp ra trường đảm nhận
chức vụ quan trọng trong những công ty nổi
tiếng như :
Công ty giấy
Cogido – Tân Mai;
Công ty Xi
măng Hà Tiên;
Mỏ than
Nông Sơn;
Cọng ty
Đường Việt Nam;
Các công ty dệt
nhuộm;
Viện bào
chế Y Dược;
Trung tâm Khuếch
Trương Kỹ Nghệ;
Bộ Kinh Tế,Canh
Nông;
Sàig̣n Thủy Cục …
Sinh viên
trường Cao Đẳng Hóa Học – H́nh
trích từ tài liệu [1]
Vào năm
1973 này, theo Sắc lệnh số 033-SL/GD ngày 21/03/1973 , Trung
Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ) đổi thành Viện Đại
Học Kỹ Thuật (Học Viện Quốc Gia Kỹ
Thuật- HVQGKT). Viện Đại
Học Kỹ Thuật này bao gồm sáu (6) trường
thành viên: Trường Cao Đẳng Công Chánh, trường
Cao Đẳng Công Nghệ , trường Cao Đẳng
Điện Học, trường Cao Đẳng Hóa Học,
trường Cao Đẳng Hàng Hải (Việt Nam Hàng hải)
và Trường Kỹ Thuật và Khoa Học Căn Bản.
Theo tài liệu [1] : Đáng
chú ý, trường Kỹ thuật và Khoa học
căn bản được thành lập theo sắc lệnh
135SL/GD để hỗ trợ cho năm trường cao
đẳng thuộc HVQGKT. Trường Kỹ thuật và
Khoa học căn bản có nhiệm vụ giảng dạy
cho sinh viên năm thứ nhất các kiến thức về
kỹ thuật khoa học để sinh viên có thể theo
các ngành chuyên môn ở các năm tiếp theo (tại năm
trường cao đẳng c̣n lại). Học sinh có bằng
Tú Tài 2, ban B (Toán) hoặc Tú Tài
Kỹ thuật Toán của
trường Trung học Kỹ thuật Công nghiệp
được thi tuyển, nếu đậu sẽ học
năm thứ nhất tại trường này .
Và chỉ
khoảng một tháng sau ,Viện Đại học Bách Khoa
Thủ Đức được thành lập theo Sắc lệnh số 083-SL/GD
ngày 30/04/1973 .
Tiếp theo
đó ,vào ngày 11/01/1974 với Sắc lệnh số
010-SL/VNGDTN, Viện Đại Học Kỹ Thuật (
trước đó là Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ))
là thành viên Viện Đại học Bách Khoa Thủ
Đức, với tên Trường Đại học Kỹ
thuật và chỉ đào tạo
hệ đại học.
Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức gồm
có 7 trường đại học thành viên, trong đó có 3
trường đă tồn tại
và hoạt động riêng rẽ trước đó (
đánh số 1, 2 vả 3) và 4
trường mới (đánh số 4,5,6,và 7) :
1.
Trường Đại học Kỹ Thuật
: Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ
Thuật Phú Thọ (1957), bao gồm Trường
Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Điện
Lực, Trường Kỹ Sư Công Nghệ, và Trường
Việt Nam Hàng Hải ;
2.
Trường Đại học Nông nghiệp:
Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Nông-Lâm-Súc, rồi Học viện Quốc gia
Nông Nghiệp (1972) ;
3.
Trường Đại học Giáo dục:
Tiền thân là Trung tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ
Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức ;
4.
Trường Đại học Kinh
Thương ("Kinh Thương" là viết tắt của
"Kinh tế và Thương mại") ;
5.
Trường Đại học Khoa học
Cơ bản ;
6.
Trường Đại học Thiết Kế
Thị Thôn ("Thị Thôn" là viết tắt của
"Thành thị và Nông thôn") ;
7.
Trường Sau Đại học (tiếng
Anh: College of Graduate Studies), điều phối
các chương tŕnh đào tạo bậc Cao Học và Tiền
Sĩ.
(Xem thêm chi tiết trong bài Viện Đại Học
Bách Khoa Thủ Đức của cùng tác giả).
Theo tài liệu [2] : Rất tiếc, miền Nam sụp
đổ ngày 30/4/1975 kéo theo sự tan vỡ của một
kế hoạch phát triễn Viện Đại học Bách
Khoa Thủ Đức theo
hướng của các quốc gia tân tiến.
Trường
Cao Đẳng Hóa Học - Năm 1986 - H́nh trích từ tài liệu [6]
Phụ đề :
Sơ lược tiểu sử Tiến Sĩ Trương
Công Hiếu
Theo tài liệu [7,8,9,10] :
Tiến Sĩ Trương Công Hiếu sinh ngày 23 tháng 9
năm 1941 tại Sàig̣n. Ông
nguyên là cựu học sinh trường Jean-Jacques
Rousseau (sau này là Trường Trung Học Lê Quư Đôn ở
Sàig̣n-Xem thêm chi tiết trong bài
Trường trung học ở Sàig̣n, Chợ
Lớn và Gia Định trước năm 1975 -
Collège Chasseloup-Laubat- Lycée Jean-Jacques Rousseau- Trung
Tâm Giáo Dục Lê Quư Đôn của cùng tac giả ).
Năm 1959,là một trong
những học sinh tốt nghiệp Tú Tài 2 Ban Toán với
thành tích xuất sắc nhất toàn quốc, ông được học bổng
sang Hoa Kỳ để theo học ngành kỹ thuật tại
trường Đại Học New York. Ông đậu
Thủ Khoa khi thi lấy bằng kỹ sư và tiếp theo
đó ông học lấy bằng Master về Kỹ Sư Hóa
Học của trường Đại Học New York.
Năm 1964, ông trở về Việt Nam, đi dạy ở
trường Cao Đẳng Hóa Học và trường Cán Sự
Hóa Học thuộc trong Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật
Phú Thọ và được bổ nhiệm làm Giám đốc
trường Cao Đẳng Hóa Học . Sau 3 năm làm giáo
sư ở trường Cao Đẳng Hóa Học , ông trở
lại Hoa Kỳ để lấy bằng Tiến Sỉ Kỹ
Sư vào năm 1971.
Sau năm 1971,ông rời
Hoa Kỳ sang định cư ở Canada, đảm trách
chức vụ kỹ sư tại nhiều công ty lớn:
·
Ông là Giám Đốc Kỹ Thuật của
Công Ty Groupe Victoriaville, Québec, Công ty sản xuất bàn ghế
lớn nhất ở Québec, Canada;
·
Ông làm Giám Đốc Sản Xuất của
Công Ty Bombardier. Công ty này chuyên sản
xuất xe chạy trên tuyết (Snowmobile), xe chạy dưới
đường hầm (Métro,Subway), máy bay Canadair Regional Jet
(loại máy bay jet bay đường ngắn) ;
·
Năm 1978,ông vào làm việc cho Công Ty
Đúc Tiền Kim Loại Hoàng Gia Canada (Royal Canadian Mint).
Khi mới bắt đầu sự nghiệp tại
nhà máy đúc tiền, ông phụ trách giám sát kỹ thuật,
chịu trách nhiệm sửa chữa máy móc, và sản xuất
dụng cụ.
Đến năm 1980,ông trở thành giám đốc kỹ
thuật, giám sát các nhà máy tại Ottawa và Winnipeg, sau đó vào
năm 2001, ông làm là giám đốc kỹ thuật cao của
tập đoàn, chịu trách nhiệm nghiên cứu và phát triển
các sản phẩm mới , tập trung vào chiến lược
phát triển dài hạn cho nhà máy.
Năm 2006, ông được đề cử làm Tổng
Giám Đốc Kỹ Thuật Ban Khảo Cứu của
Công ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada (Royal Canadian Mint).
Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia- Gia Nả Đại, là Tổng
Công ty thuộc sở hữu của chính phủ Canada,
được thành lập vào năm 1908 tại Ottawa để
sản xuất tiền kim loại cho Canada và tinh chế
vàng ṛng được vận chuyển từ rất nhiều
mỏ vàng ở Québec, Ontario, Manitoba, phía Bắc Alberta và
British Columbia.
Nhà Máy
Đúc Tiền Hoàng Gia- Gia Nả Đại - H́nh trích từ
tài liệu [8]
Nhà Máy
Đúc Tiền Hoàng Gia - Gia Nả
Đại chuyên sản xuất tiền xu lưu hành và
đồng phôi với cao độ dập tự động
cho hơn 80 quốc gia trên thế giới tại cơ sở
đúc tiền ở Winnipeg. Những kỹ thuật chuyên sản
xuất những loại tiền xu lưu niệm, những
loại tiền kim loại quư như vàng, bạc, bạch
kim, palladium để đầu tư trên thế giới
đều được sản xuất tại cơ sở
lịch sử Ottawa.
Năm 2008
,Canada tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ
100 ngày thành lập Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia- Gia Nả Đại (Royal Canadian
Mint) để đánh dấu sự thành công của Công ty
Đúc Tiền Hoàng Gia Canada, được nổi danh là một
công ty hàng đầu của thế giới về những
kỹ thuật và những phát minh hiện đại, những
hiểu biết sâu rộng về khoa học và kỹ thuật
đúc tiền.
Trong quyển
sách: "Lịch Sử 100 Năm của Nhà Máy Đúc Tiền
Hoàng Gia Gia Nả Đại" (Royal Canadian Mint 100 Years of
History), Tiến Sĩ Trương Công Hiếu đă
được ghi nhận là người đầu tiên
trên thế giới đă thay đổi hệ thống
đúc tiền bằng những kỹ thuật dùng kim loại
và thép để làm cho đồng tiền mỏng hơn,
nhẹ hơn và không bị rỉ sét.
Ngày nay những
kỹ thuật hiện đại của Sở Đúc Tiền
Hoàng Gia Nả Đại do ông phát minh đă thay đổi
tất cả tiền lưu hành hiện tại của
nước Canada. Những cống hiến của ông
đă giúp đưa Canada lên vị trí hàng đầu trong
ngành đúc tiền, chuyển đổi công nghệ sản
xuất đồng xu. Kết quả là Canada đă giới
thiệu “nhiều sản phẩm đầu tiên” đến
với ngành công nghệ đúc tiền toàn cầu.
Những
phát minh mới về kỹ thuật đúc tiền của
ông hiện nay đă tạo nhiều ảnh hưởng về
h́nh thức và phương cách đúc tiền kim loại
trên thế giới .
Ông phát minh
Kỹ thuật mạ đa lớp ( multiplaqué ) trên thép cho phép thay thế
các nguyên liệu đắt tiền hiện có như đồng,
kền và nhôm bằng thép không rỉ (acier inoxydable,acier inox -stainless steel) , giúp cắt giảm
chi phí, an toàn khi thực hiện và kéo dài thời gian sử
dụng. Kỹ thuật nầy đang được xữ
dụng trong tiền kim loại của hơn 35 nước
trên thế giới.
Cũng chính
ông người đầu tiên và duy nhất đă phát minh và
được cấp bằng sáng chế cho kỹ thuật
sử dụng in màu trên tiền kim loại lưu hành giống
như in mầu trên giấy bạc . Khác với tiền cổ
sưu tầm, ít khi bị phai màu do không tiếp xúc với
trực tiếp với tay người sử dụng, tiền
kim loại đang lưu hành hiện nay thường xuyên bị
tác động và mài ṃn bởi người sử dụng
v́ thế không thể giữ được màu in. Bằng
nhiều nghiên cứu chuyên sâu, bằng cách sử dụng
tia laser để đổi màu trên tiền kim loại , tiến
sĩ Trương đă phát minh ra kỹ thuật in màu
độc đáo tránh bị mài ṃn.
Cho đến
nay, Nhà máy đúc tiền Hoàng Gia Canada là đơn vị duy
nhất trên thế giới sản xuất thành công tiền
đúc lưu hành với công nghệ in màu cải tiến.
Đồng
tiền kim loại Canada - H́nh
trích từ tài liệu [8]
Không dừng
lại ở đó, công nghệ xác thực DNA (Digital
Non-Destructive Activation) đầu tiên trên thế giới xác
nhận nhanh chóng và không phá hủy đồng tiền vàng
thông qua điện thoại thông minh, đến từ phát
minh của tiến sĩ Trương.
Ông đă tạo
ra một khuôn mẫu ngẫu nhiên không thể bị sao chép
trên bề mặt đồng xu. Các mẫu thiết kế
bằng laser này đă được mă hóa bằng chữ
kư, hoặc vân tay điện tử và được ghi lại
trong kho dữ liệu nguồn của nhà máy. Từ đó,
cho dù ở bất kỳ đâu, vào bất kỳ thời
điểm nào, máy tính của nhà máy đúc tiền Hoàng Gia vẫn
có thể tiếp nhận h́nh ảnh được gửi
từ hệ thống vệ tinh điện thoại đến
trang web (trang mạng) của nhà mày để phân tích bằng
máy tính cho chữ kư phù hợp trong cơ sở dữ liệu.
Ngoài những
công nghệ tiên tiến kể trên, tiến sĩ
Trương c̣n được vinh danh nhờ các nghiên cứu
và ứng dụng lớp phủ vật lư (PVD) để phủ
cứng bề mặt giúp kéo dài thời gian bảo quản
và dễ dàng khôi phục, giảm việc khắc số trực
tiếp, kỹ thuật lưỡng kim giúp in 2 màu cho các
đồng tiền làm từ 2 loại vật liệu
(như đồng tiền $2 ).Ông cũng nghiên cứu ra các
kỹ thuật tinh chế vàng
nguyên chất 4 số 9 (.9999) làm tiêu chuẩn quốc tế
từ năm 1982, và kỹ thuật lọc vàng 5 số 9
(.99999),
Ngoài ra,ông
cũng là người đă phát minh [COLOR = maroon],kỹ thuật
sản xuất tiền xu với h́nh ảnh ba chiều
(hologram), và dùng kiến thức DNA trong tiền lưu hành và
vàng để bảo mật và định tính xác thực
đồng tiền vàng ṛng của Canada lưu hành ở bất
cứ nơi nào trên thế giới qua hệ thống vệ
tinh điện thoại thông minh di động (smartphone).
Hiện nay
tiền xu ở các nước như: Canada, Singapore, New
Zealand, Barbados , Ghana, Ethiopia , Thailand, Philippines , Venezuela,
Panama, Albania, United Arab Emirates… cũng đang dùng những kỹ
thuật của ông. Chính phủ Mỹ cũng đă b́nh chọn
kỹ thuật của ông để đưa vào áp dụng
trong chương trinh tuyển lựa kim loại mới cho
ngành tiền tệ của Mỹ, do Thượng và Hạ
Nghị Viện Mỹ chấp thuận cho phép chánh phủ
Obama thay đổi tiền tệ Mỹ trong tương
lai.
Trong quyển
sách: "Chuyện Kể Về Các Cuộc Triển Lăm Tiền
Xu Quốc Tế" (Story of World Money Fair) được
xuất bản vào năm 2012, tác giả Albert M Beck, Chủ
Tịch và Sáng Lập Viên của Hội Chợ Quốc Tế
Tiền Tệ Berlin tại Đức đă viết và b́nh
luận về Tiến Sĩ Trương Công Hiếu
như sau:
"Trong 40
năm vừa qua người mà có công lao nhiều nhất
trong sự tiến bộ về ngành đúc tiền trên thế
giới, người đă đóng góp nhiều nhất về
những kiến thức mới về nghành đúc tiền
trên thế giới chính là Tiến Sỉ Hieu C. Truong của
Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại".
Ông M. Beck
cũng đưa thêm lời b́nh luận: " Tôi cho rằng
ông Hieu C. Truong là người có công nhiều nhất đối
với ngành kỹ thuật đúc tiền kim loại của
thế giới. Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả
Đại cũng công nhận rằng Tiến Sỉ
Trương Công Hiếu là người kỹ sư nổi
tiếng nhất trên thế giới và là người hiểu
biết nhiều nhất trong kỹ thuật đúc tiền.
Theo tôi ai muốn biết kỹ thuật đúc tiền sẽ
đi về hướng nào trong tương lai th́ nên hỏi
ông Hiếu ".
Để
tiếp tục lưu danh là một Công Ty dẫn đầu
thế giới về kỹ thuật đúc tiền và
để thành công trong những lảnh vực phát triển
các công nghệ mới hầu phục vụ ngành công nghiệp
đúc tiền của thế giới và cũng để
tôn vinh và ghi nhớ những công trạng đóng góp to lớn
của Tiến Sĩ Trương Công Hiếu đối với
Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại, Royal
Canadian Mint đă cho xây dựng một Trung Tâm Khảo Cứu
Xuất Sắc và Hiện Đại với ngân sách 10 triệu
đô la tại Winnipeg và đặt tên cho cơ sở khảo
cứu về kỹ thuật đúc tiền vừa mới
xây dựng nầy là:
Dr. Hieu C. Truong Centre of Excellence for Research and Development
(Trung tâm Khảo Cứu Xuất Săc và Phát Triển Tiến Sĩ
Trương Công Hiếu)
Trung Tâm Khảo
Cứu Xuất Săc Tiến Sĩ Trương Công Hiếu
(Dr Hieu C. Truong Center of Excellence) Royal Canadian Mint, Winnipeg,
Manitoba, Canada - H́nh trích từ tài liệu [8]
Tiến
sĩ Trương Công Hiếu chụp trước bảng
đồng tôn vinh ông của Trung Tâm Khảo Cứu - H́nh trích từ tài liệu [10]
Nhà máy
đúc tiền Hoàng Gia Canada cũng sản xuất một
huy chương để tôn vinh ông và đánh dấu sự
ra đời của Trung tâm.
Cơ sở
khảo cứu nầy đă được khánh thành vào
ngày 13 tháng 6 năm 2013 cùng lúc với nhà máy mạ thứ hai
được xây dựng với ngân sách 70 triệu
đôla. Tất cả những cơ sở nầy là
nơi mà những kỹ thuật mới nhất về
đúc tiền trong lảnh vực khoa học, trong lảnh
vực tự động hóa qua máy vi tính, trong kiến thức
mới nhất với điện tín vệ tinh, phát triển
phần mềm, khoa học vật liệu trong việc quản
lư tiền tệ, trong lảnh vực thông tin liên lạc bằng
điện thoại hoán chuyển thói quen của người
tiêu dùng ... tất cả những phát minh mới về tiền
tệ của Tiến Sỉ Trương Công Hiếu sẽ
được đưa vào áp dụng và sẽ được
phát triển tại nơi nầy để phục vụ
cho các thế hệ trong tương lai.
Trung Tâm Khảo
Cứu mới nầy cũng sẽ là nơi được
dùng để đào tạo các kỹ sư, các nhà quản
lư và các giám đốc của các Nhà Máy Đúc Tiền trên thế
giới. Những người đi tu nghiệp sẽ
được đưa đến Trung Tâm nầy để
học các kỹ thuật căn bản cũng như các kỹ
thuật hiện đại về đánh tiền, v́ từ
trước đến nay kỹ thuật nầy chưa từng
được giảng dạy tại một trường
đại học nào trên thế giới. Trung Tâm Khảo Cứu
nầy cũng sẽ là nơi hội tụ của các kỹ
sư, các nhà khảo cứu trên thế giới t́m đến
với nhau để cùng nhau hợp tác khảo cứu về
môn đúc tiền.
Tiến
sĩ Trương Công Hiếu đă làm việc cho nhà máy
đúc tiền cho đến khi nghỉ hưu năm 2014.
Ông kết thúc sự nghiệp đúc tiền với hơn
mười bằng sáng chế
được công nhận ở Canada, Mỹ, Châu Âu, Trung
Quốc, Singapore và Úc. Ông đă để lại cả một
kho tàng kiến thức đúc tiền cho Canada và hơn 40
nước trên thế giới hiện đang áp dụng
các sáng chế của ông.
Vào ngày 24
tháng 1 năm 2018 ,ông Trương Công Hiếu đă chính thức
nhận Huân Chương Vinh Danh Bội Tinh Gia Nă Đại
((Order of Canada) .
Đây là
huân chương cao quư đứng thứ hai sau Vinh Công Bội
Tinh (Order of Merit). Trên huân chương có ḍng chữ
desiderantes meliorem patriam, có nghĩa là V́ Một Đất
Nước Tốt Đẹp Hơn (tiếng Anh: "They
desire a better country") .
Tiến
sĩ Trương Công Hiếu và Bà Gouverneure Générale Canada
Julie Payette - H́nh trích từ tài liệu [9]
Ngoài việc
phục vụ cho đất nước Canada, Tiến
Sĩ Trương Công Hiếu cũng tham gia và ủng hộ
các chương tŕnh họat động của Cộng
Đồng Việt Nam tại Canada.
Ông làm có vấn
cho các tổ chức: Thể Thao Người Việt Bắc
Mỹ lần thứ IX được tổ chức tại
Ottawa năm 1981, Ủy Ban Lập Đền Kỹ Niệm
của Liên Đoàn Hội Người Việt, bao gồm
11 Hội Người Việt của các địa
phương khắp nước Canada, Ủy Ban xây dựng
Trung Tâm Văn Lang (ngân sách do chánh phủ Ontario, Canada tài trợ).
Trung Tâm Văn Lang là một chung cư gồm 80 căn appartement được xây
dựng lên để nâng đở, trợ giúp cho những
bô lăo người Việt và những gia đ́nh có nguồn
lợi tức thấp, có được nơi ổn
định cho đời sống.
Ông cũng cộng
tác với Hội Phật Giáo Người Việt xây dựng
lên Chùa Từ Ân với kiến trúc thuần túy của một
ngôi chùa Việt Nam tại thủ đô Ottawa.
Tài liệu tham khảo :
1. https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y
Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn
bằng tốt nghiệp ở miền Nam
trước 1975.
2. GS.
Huỳnh Công Ân - Các trường Đại học ở miến
Nam trước 1975 (Phần 1) .
3. https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Qu%E1%BB%91c_gia_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D
Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ.
4. http://startup.gov.vn/Pages/NguonNhanLuc.aspx?ItemID=91 Bộ
Khoa Học và Công nghệ - Trường Đại
học Bách Khoa TP. HCM- 14/08/2018 .
5. https://www.facebook.com/Chemengalumni/posts/th%E1%BA%A7y-tr%C6%B0%C6%A1ng-c%C3%B4ng-hi%E1%BA%BFu-hi%E1%BB%87u-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-cao-%C4%91%E1%BA%B3ng-h%C3%B3a-h%E1%BB%8Dc-t%E1%BB%A9c-l%C3%A0-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-khoa-k%E1%BB%B9-/865792668679374/Publication
de Cựu Sinh Viên Kỹ Thuật Hoá Học Phú Thọ Bách
Khoa – BKACE - Cựu Sinh Viên Kỹ
Thuật Hoá Học Phú Thọ Bách Khoa - BKACE - 4 mars 2024 .
6. https://chuyenxua.net/lich-su-thanh-lap-trung-tam-quoc-gia-ky-thuat-phu-tho-cua-sai-gon-xua-nay-la-dai-hoc-bach-khoa/ Lịch sử thành lập Trung tâm
Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ của Sài G̣n xưa
(nay là Đại học Bách Khoa) Sài G̣n xưa - Đông Kha –
chuyenxua.net.
7.
https://en.m.wikipedia.org/wiki/Hieu_C._Truong Hieu C. Truong .
8.
https://www.vietvancouver.ca/entertainment-giai-tri/tien-si-truong-cong-hieu-va-royal-canadian-mint vietvancouver.ca Tiến sĩ
Trương Công Hiếu và Royal Canadian Mint - Lê Phan .
9.
https://noralangdu.blogspot.com/2018/02/tien-si-truong-cong-hieu-nguoi-canada.html Tiến sĩ
Trương Công Hiếu, người Canada gốc Việt
đầu tiên được trao tặng huy chương
Order Of Canada - Sunday, February 25, 2018 - Nguồn: Thời Báo .
10. http://caodanghoahoc.net/tin-tuc/thay-truong-cong-hieu-duoc-vinh-danh-order-of-canada-13.html Thầy Trương
Công Hiếu Được Vinh Danh Order Of Canada - GDHH xin
đăng lại bài viết về TS Trương Công Hiếu
được vinh danh Order of Canada trên trang của Cộng
đồng người Việt ở Ottawa.
12 - Trường
Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật – Quận 10-Sài g̣n
& Thủ Đức-Gia Định
TM xin trân
trọng đề tặng bài này đến bạn hiền
Huỳnh Kim Quang , cựu học sinh lớp Đệ Nhứt
5-niên khóa 1971 trường trung học Kỹ Thuật Cao Thắng Sàig̣n
và cựu sinh viên trường Cao Đẳng Sư Phạm
Kỹ Thuật-Phú Thọ.
Trường
Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật là hậu thân của
Ban Cao Đẳng Sư phạm Kỹ thuật thành lập vào năm 1962 trong khuôn
viên Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật - Bộ Giáo Dục Việt
Nam Cộng Ḥa ,ở khu Phú Thọ , đường Nguyễn
Văn Thoại và đường
Tô Hiến Thành,thuộc phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n. Đến
năm 1972, Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ thuật dời về Thủ Đức,tỉnh
Gia Định.
Sau đây là
sơ lược thành lập Trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ
Thuật :
Theo tài liệu [1,2] : Tiền thân của
trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật
là Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật thuộc
trường Bách Khoa Phú Thọ, được thành lập
ngày 05 tháng 10 năm 1962 theo quyết định số
1082/GD của Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa.
Nhưng theo tài liệu
[3,4] :
Ban Cao Đẳng
Sư Phạm Kỹ Thuật
trực thuộc Nha Kỹ Thuật và Chuyên
Nghiệp Học Vụ.
Theo tài liệu [5] : Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ
Thuật được thành lập năm 1962 đặt tại
Trường Bách Khoa Trung Cấp Phú Thọ.
Dấu hiệu
(logo) Trường Cao Đẳng
Sư Phạm Kỹ Thuật năm 1962- H́nh trích từ
tài liệu [6]
Theo tài liệu [3] :
Đến năm 1960, Trường Bách Khoa Trung Cấp trong
khuôn viên Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ xây cất
xong, thu nhận khóa đầu tiên theo học, gồm học
sinh các Trường Cao Thắng và Thực Nghiệp thi tuyển
vào.
Năm 1962, dưới thời kỹ sư Nguyễn Được làm
Giám Đốc Nha Kỹ Thuật Học Vụ, Ban Cao Đẳng
Sư Phạm được thành lập.
Ban này do ông Trần Lưu Cung, kỹ sư viễn thông, Phụ tá Giám
Đốc Nha Kỹ Thuật Học Vụ làm Giám Đốc
Ban này, kiêm Giám Đốc Trường Bách Khoa Trung Cấp.
Ban Cao Đẳng Sư Phạm
dùng chung cơ sở của Trường Bách Khoa Trung Cấp
để đào tạo Giáo sư Chuyên Nghiệp Đệ
Nhất và Đệ Nhị Cấp, gồm các Ban: Khoa Học
Áp Dụng, Kỹ Nghệ Họa, Máy Dụng Cụ, Điện
Lạnh, Điện tử, Kỹ Nghệ Sắt, Kỹ
Nghệ Gỗ ;
Theo tài liệu [1] : Ban Cao Đẳng
Sư Phạm Kỹ Thuật vào lúc ban đầu (năm
1962), đào tạo 4 ngành : Khoa học ứng dụng ,
Chuyên nghiệp (ô tô, điện, chế tạo máy, đúc,
kỹ nghệ gỗ, gốm, sơn mài…) , Kỹ nghệ họa
, Thương mại, tiểu công nghệ và kinh tế gia
đ́nh.
Ban Cao Đẳng
Sư Phạm Kỹ Thuật là hệ Cao Đẳng
như Cao Đẳng Công Chánh, Cao Đẳng Điện,
Cao Đẳng Hóa Học, chuyên đào tạo Trung cấp và
Đại Học, nhưng Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ
Thuật không chính thức là một Trường Cao Đẳng,
nó chỉ là Ban Cao Đẳng, trực thuộc Nha Kỹ
Thuật Học Vụ, sinh viên tốt nghiệp 2 năm, chỉ
số 320 và tốt nghiệp 4 năm, chỉ số 480.
Muốn vào học Ban Cao
Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật , thí sinh phải
có bằng Tú Tài 2 Kỹ
Thuật và qua một cuộc thi tuyển khó khăn, chật
vật .
Niên khóa đầu tiên là niên khóa 1962-1963.
Một cựu
sinh viên, tác giả tài liệu [3], được nhận
vào năm thứ nhứt Ban
Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật vào
năm 1963 hay 1964, đă viết
như sau :
‘’ Năm đầu tiên, tôi học Toán với giáo sư
Vũ Mộng Hà, Anh Văn giáo sư Phạm Văn Rao, vốn
là giáo sư Cao Thắng, Công tác Xưởng học Kỹ
Nghệ Gỗ với giáo sư Trần Minh Hoàng, Cơ Học
kỷ sư Tôn Thất Tiêu, Kỹ Nghệ Họa 20 giờ/tuần
học với kỷ sư Trần Thế Can, hồi ở
Cao Thắng,tôi đă học với ông về Kỹ Nghệ
Họa 5 giờ/tuần và Đại số .
(Phụ chú : Vài
hàng về giáo sư Vũ Mộng Hà
Giáo sư Vũ
Mộng Hà đậu cử nhân toán năm 20 tuổi (thông
thường là 22),dạy Toán từ năm 1961.
Hai giai thoại
về thầy Vũ Mộng
Hà ở trường Cao Thắng
trích từ tài liệu [7]
:
·
‘’ Ngày Thầy đi
dạy đầu tiên bị gác dan và giám thị không cho
Thầy vào trường, Thầy phải nhắn mời
Giám học ra đưa Thầy vào, chỉ v́ Thầy đi
dạy c̣n rất trẻ có dáng thư sinh ‘’ Trói gà không
chặt ‘’, giám thị nghĩ Thầy là học sinh không
mặc đồng phục, nên không cho vào trường,
từ đó về sau Thầy Hà đi dạy phải
thắt cà vạt để cho giám thị phân biệt;
·
Thầy Hà có trí thông
minh tuyệt vời. Thầy dạy Toán, Lư Hóa Đệ
Nhất.Đang đọc bài cho học sinh chép, chuông reo
hết giờ, Thầy bỏ ra
khỏi lớp, tuần sau đọc tiếp cho
học sinh chép. Bài tập Thầy chấm xong trả
lại cho học sinh, sau đó chỉ gọi vài học
sinh để ghi điểm, những học sinh khác
Thầy ghi theo trí nhớ ’’.
Hiệu Trưởng trường Cao Thắng,ông Cao
Thanh Đảnh (kỹ sư) ngồi giữa giáo sư Phạm Doăn
Đương và Vũ Mộng Hà (ngồi bên trái Hiệu
Trưởng)- Ông Đảnh làm Hiệu Trưởng
năm 1961- Vậy th́ h́nh này có thể được chụp
vào năm 1961 hay sau đó
Thầy Vũ
Mộng Hà và học sinh Nguyễn Xuân Thới- năm
chưa xác định được-H́nh trích từ tài
liệu [7]
TM, tác giả bài này, năm 1971, học
đệ nhất ban kỹ thuật toán trường kỹ thuật Cao
Thằng có diễm phúc và may mắn được học
cua (cours) Toán : H́nh học, Đại số giải tích
với thầy Vũ Mộng Hà. TM c̣n nhớ tạng
người Thầy mảnh khảnh nhưng Thầy di
chuyển rất mau lẹ.Trên bục giảng,
trước bản đen,Thầy rất linh động.
Phương pháp giảng dạy Toán của Thầy rất
dễ hiểu,dễ hấp thụ đến nổi
nhiều học sinh bạn ở các lớp đệ
nhất kế bên, học toán với các thầy khác,
thường qua ngồi học ké.Thầy thường
chấm dứt các bài giảng
bằng câu Hết vừa đúng lúc kẻng
trường đổ chuông chấm dứt lớp.
Ngoài ra TM c̣n nhớ tới ngày nay : Vào
những năm 1969-1971 (hay trước và sau đó), giáo
sư Vũ Mộng Hà dạy
Toán, Lư Hóa cho các lớp luyện thi Tú Tài Đôi (2) ở các
trường trung học tư thục như trường
Trường Sơn và các lớp luyện thi vào các phân khoa
Đại học và các trường Cao Đẳng Phú
Thọ, Kiến Trúc…
Đến năm
1981,Thầy vượt biên qua Poulo Bidong (Mă Lai) và
định cư tại Hoa Kỳ. Vào
năm 2016, Thầy là
cư dân Westminster, tiểu bang California, Hoa Kỳ ).
Theo tài liệu [3] : ‘’ Tôi không nhớ rơ lắm, nhưng mỗi tuần chúng tôi
học chừng 40 giờ và mỗi sinh viên đường
nhiên có học bổng hàng tháng một ngàn đồng.
Những ngày đầu, kể cả tôi, gồm có 9, 10
người theo học, trong đó có một số lại
đỗ vào Kỹ sư Công nghệ. Ai cũng muốn học
kỷ sư, nhưng theo học kỷ sư mất 4
năm, c̣n Ban Kỹ Nghệ Họa chúng tôi năm đó chỉ
lấy 10 người, học 2 năm, mỗi tháng đều
có học bổng, cho nên có người học vài ngày rồi
bỏ để theo học Kỷ sư Công nghệ, riêng
chỉ có anh Nguyễn Văn Bài bỏ kỷ sư, theo học
sư phạm; theo tôi, anh v́ hoàn cảnh gia đ́nh .
Trước khi chúng tôi vào học, Ban Kỹ Nghệ Họa
có đến 2 giáo sư của Trường Đại Học
Southern Illinois University, gọi tắc là phái đoàn SIU, sang dạy
. Lúc chúng tôi mới vào học, 2 giáo sư này hết hạn,
đang chuẩn bị về nước, riêng Xưởng
Kỹ Nghệ Gỗ vẫn c̣n một giáo sư cố vấn
Mỹ.
Trong môn chính học Kỹ Nghệ Họa, ngoài việc học
vẽ, kỹ thuật học, chúng tôi c̣n phải dịch
các tài liệu kỹ thuật từ sách báo Mỹ ra Việt
Văn, sau khi dịch xong, in Ditto ra phát cho mỗi người
một bản để người dịch tŕnh bày và cả
lớp cùng thảo luận, một là nhằm mục
đích tập cho sinh viên dịch tài liệu, hai là tập
thuyết tŕnh cũng là hai thứ chánh yếu cần thiết
để giảng dạy sau này .
Năm thứ hai, chúng tôi học Kỹ Nghệ Họa với
kỹ sư Nguyễn Năng Cường, Anh Văn với
giáo sư Nguyễn Hoàng Trinh, Máy Dụng Cụ với giáo
sư Nguyễn Văn Giáp, Toán với kỹ sư Trần
Lưu Cung, Cơ Học cũng với giáo sư Tôn Thất
Tiêu, Sư Phạm với Thanh Tra Văn Văn Đây .
Trong các nữ
sinh viên Ban Sư Phạm Kỹ Thuật thời đó, h́nh
như có người đẹp Hoàng Lan sau kết duyên với
Trưởng Ty điện lực Tây Ninh ? Cô Huyền tên xứng
danh với nước da của cô, cũng nổi tiếng
v́ có duyên hơn là đẹp.
Mỗi sinh viên
Ban Cao Đẳng Sư Phạm ra Trường đều
có làm một Luận án tốt nghiệp. Luận án của
tôi tŕnh bày về Bánh xe răng khoảng 30 trang đánh máy ‘’.
Mặt tiền Trường
Bách Khoa Trung Cấp Phú Thọ, Sàig̣n ,cũng là Ban Cao Đẳng
Sư Phạm Kỹ Thuật-
Sinh viên Huỳnh Ái Tông và Nguyễn
Văn Bài – H́nh trích từ tài liệu tài liệu [3] :
Phía sau Trường
Bách Khoa Trung Cấp Phú Thọ, Sàig̣n – Sinh viên Lương
Văn Nhơn, Phạm Văn Đước, Huỳnh Ái
Tông, Nguyễn Đức Lộc Bài – H́nh trích từ tài liệu
tài liệu [3]
Theo tài liệu [5] : Năm 1969, Trường trung học Kỹ Thuật
Nguyễn Trường Tộ nằm
trên đường Hồng Thập Tự- quận 1, bị
giao cho Ṭa Đại Sứ Mỹ,láng giềng có chung tường
với Trường, nên dời về ở tạm
trong khuôn viên Nha Kỹ Thuật Học Vụ.
V́
vậy, vào năm 1969 , chánh phủ Việt Nam Cộng Ḥa
đă giải tỏa khu nghĩa địa rộng lớn
diện tích trên 10 mẫu ở Thủ Đức
để cất Trung Tâm Kỹ Thuật Nguyễn
Trường Tộ, gồm có một giảng
đường nối liền với pḥng hành chánh, thư
viện, bốn dăi lớp học, một số xưởng
và bốn dăi kư túc xá với một nhà Hiệu
Trưởng.
Cơ
sở này do Mỹ viện trợ với phần
lớn đội ngũ giáo sư được đào tạo
tại Hoa Kỳ . Nhà, xưởng, lớp học khang
trang, trang thiết bị đầy đủ đáp ứng
nhiệm vụ đào tạo cho khoảng 500 sinh viên. Công ty
Đại Hàn trúng thầu xây
cất, khởi thủy Trung Tâm Nguyễn Trường
Tộ gồm Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ
Thuật (Phú Thọ) và
Trường trung học Nguyễn Trường
Tộ sáp nhập lại ( theo tài liệu [8] ) .
Đến năm 1972 , Trung Tâm Kỹ Thuật Nguyễn
Trường Tộ Thủ Đức được khánh thành.
Như thế măi đến năm 1972, Ban Cao Đẳng
Sư Phạm Kỹ Thuật mới có cơ sở riêng ở
Thủ Đức với tên mới
là Trung Tâm Giáo Dục Kỹ Thuật Nguyễn Trường
Tộ.
Theo tài liệu [1] cũng viết tương tự
như trên : Năm 1972, Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ
Thuật được đổi tên thành Trung tâm Cao đẳng
Sư phạm Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ
Thủ Đức .
Tính đến năm 1972, Ban Cao Đẳng Sư Phạm
Kỹ Thuật (Phú Thọ) đă đào tạo được
9 khóa và số sinh viên từ khóa 1 đến khóa 9 tốt
nghiệp là 445 người.
Cũng xin ghi
thêm là theo tài liệu [5] : Ngày bàn giao cơ sở Trung Tâm Kỹ
Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức , ông Phan Kim Báu đại diện
nhận ch́a khóa trường trung học Kỹ Thuật
Nguyễn Trường Tộ. Trường
rất đẹp, đầy đủ tiện nghi máy móc,
nhưng v́ nằm xa trung tâm Sàig̣n nên các giáo sư trường Nguyễn Trường
Tộ đồng ư giao Trường này cho Trung Tâm Giáo Dục
Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ.
Toàn cảnh
Trường Cao Đẳng
Sư Phạm Kỹ Thuật ở
Thủ Đức- H́nh trích từ tài liệu [2]
Lễ khánh
thành cơ sở mới Thủ Đức vào ngày 04 tháng 5
năm 1973 và ngày khai giảng đầu tiên tại cơ sở
này cho năm học
1972-1973 là ngày 12 tháng 11 năm
1973.
Trung Tâm Cao
Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Nguyễn Trường
Tộ - H́nh trích từ tài liệu [1]
Lễ khai giảng
niên khóa 72-73 - H́nh trích từ
tài liệu [2]
Đường vào cổng
trường-H́nh trích từ tài liệu [2]
Sinh viên đến
trường-H́nh trích từ tài liệu [2]
Theo tài liệu
[4] : Trường Cao
Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật đào tạo các
giáo chức dạy các môn kỹ thuật cho các trường
Sư Phạm Kỹ Thuật Trung Cấp. Trường có
các ngành về Khoa Học Ứng Dụng, Khoa Học Chuyên
Nghiệp, Kỹ Nghệ Họa, Thương Mại và Tiểu
Công Nghệ.
Theo tài liệu [1] : Nhiệm vụ của Trung Tâm là
đào tạo giáo sư đệ
nhất cấp (giáo sư dạy
nghề), thời gian đào tạo 2 năm và giáo sư đệ nhị cấp (giáo
sư kỹ thuật), thời gian 4 năm.
Niên khoá
đầu tiên 1972-1973, Trung Tâm gồm có các khoa : Khoa Học
Ứng Dụng , Máy dụng cụ , Cơ khí ô tô và Diesel , Kỹ
nghệ sắt , Kỹ Nghệ Họa , Kinh Tế Gia
Đ́nh , Kỹ Nghệ Gỗ , Gốm , Điện Kỹ
Nghệ , Điện tử với
tổng cộng 120 sinh viên.
Theo tài liệu [8] : Ông Trần Minh Hoàng, Phó
Giám Đốc Nha Kỹ Thuật Học Vụ, đi du
học ở Mỹ, có bằng Master, sau khi về
nước, năm đầu tiên ông dạy Kỹ Nghệ
Gỗ ở Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật,
Nữ sinh viên Trường
Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật - H́nh trích từ tài liệu [2]
Cơ sở Trường Đại Học
Sư Phạm Kỹ Thuật - H́nh
trích từ tài liệu [2]
Giờ Thực Hành môn
Hóa học, Nữ công gia chánh, Kỹ nghệ sắt …H́nh
trích từ tài liệu [2]
Giờ học Nữ Công,
Toán,Điện tử, Kỹ nghệ sắt - H́nh trích từ tài liệu [2]
Theo tài liệu [3] : Năm 1964, Ban Nữ Công Gia Chánh và
Thương Mại được mở trong Trường Bách Khoa Trung Cấp.
Giờ Thực Hành chế
tạo - H́nh trích từ tài liệu
[2]
Giờ Thực
Hành môn Động cơ, Điện tử, Kỹ nghệ
sắt và Kỹ nghệ họa-H́nh trích từ tài liệu [2]
Giờ Thực
Hành môn Cơ khí,Tiện Nguội-
H́nh trích từ tài liệu [2]
Văn nghệ
Tất Niên 73-74 - H́nh trích từ tài liệu [2]
Sinh viên làm vườn,
trồng bông - H́nh trích từ tài liệu [2]
Quang cảnh trường
Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ
Đức trước năm 1975 -
H́nh trích từ tài liệu [1]
Theo tài liệu
[1] : Tại Trung Tâm
Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật : Có 2 khoá 10 và 11 với
177 sinh viên tốt nghiệp .
Như vậy
trong 13 năm hoạt động (1962-1974) , Ban Cao Đẳng
Sư Phạm Kỹ Thuật (Phú Thọ) và Trung Tâm Cao Đẳng Sư Phạm
Kỹ Thuật Thủ Đức đă đào tạo
được 11 khoá với tổng cộng 622 sinh viên tốt
nghiệp bao gồm : 136 giáo sư trung học kỹ thuật
đệ nhị cấp; 486 giáo sư trung học kỹ
thuật đệ nhất cấp.
Chứng
chỉ tốt nghiệp Giáo sư Chuyên nghiệp đệ
nhị cấp năm 1971 – H́nh trích từ tài liệu [4]
Theo tài liệu
[1] : Trong thời gian
này ,Trung Tâm có khoảng 70 giáo sư và 500 sinh viên, trong đó
số giáo sư chính thức chỉ có 14 người, số
c̣n lại là mời giảng .
Kỹ
sư Viễn Thông, Trần Lưu Cung, Phụ tá Giám
Đốc Nha Kỹ Thuật Học Vụ ,làm giám đốc
Ban Sư Phạm Kỹ thuật
(1962-1968); kế đó là thầy Nguyễn Thuỵ Ái
(1968-1970) và sau cùng là thầy Lê Đ́nh Viện (1970-1972).
(Phụ
chú : Ông Lê Đ́nh Viện, Master of Education ,làm hiệu trưởng
trường trường
Kỹ Thuật Cao Thắng từ năm 1965 đến năm 1967 ).
Mặc Veston từ trái sang phải: Giáo sư Nguyễn Khánh Nhuần, hiệu
trưởng Lê Đ́nh Viện, giám học Phan Văn
Long, giáo sư Dương Khắc Long,
giáo sư Trần Văn
Đặng, tổng giám xưởng Lưu Luân Trọng
Xem thêm chi tiết trong bài Trường
trung học ở Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia Định
trước năm 1975 - Trường Kỹ
Thuật Cao Thắng của cùng tác giả ).
Giáo sư Dương Văn Yến làm Giám đốc
đầu tiên của Trung Tâm Cao Đẳng Sư Phạm
Kỹ Thuật Thủ Đức.
Năm 1972, thầy Dương Văn Yến qua đời,
thầy Ngô Đ́nh Duyên (Duy ?) kế
nhiệm chức vụ Giám đốc Trung Tâm Cao đẳng
Sư Phạm Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ
Đức 1972-1975) .
Những vị giám đốc
cùng toàn thể nhân viên giảng dạy kể từ
khi thành lập trường Cao Đẳng
Sư Phạm Kỹ Thuật năm 1962 đến năm
1974 là những người có công lao to lớn xây dựng nền
móng đầu tiên, khai sáng sự nghiệp sư phạm kỹ
thuật của miền Nam Việt Nam.
Đến niên khóa 1973-1974, Trung Tâm Cao Đẳng Sư
Phạm Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ
Đức kết hợp với
một số trường Cao Đẳng của Trung Tâm Quốc
Gia Kỹ Thuật Phú Thọ để trở thành Viện
Đại Học Bách Khoa Thủ Đức dưới sự
điều khiển trực tiếp của Bộ Văn
Hóa Giáo Dục.
Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức gồm
có 7 trường đại học thành viên, trong đó có 3
trường đă tồn tại
và hoạt động riêng rẽ trước đó (
đánh số 1, 2 vả 3) và 4
trường mới (đánh số 4,5,6,và 7) :
1.
Trường Đại học Kỹ Thuật
: Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ
Thuật Phú Thọ (1957), bao gồm Trường
Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Điện
Lực, Trường Kỹ Sư Công Nghệ, và Trường
Việt Nam Hàng Hải ;
2.
Trường Đại học Nông nghiệp:
Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Nông-Lâm-Súc, rồi Học viện Quốc gia
Nông Nghiệp (1972) ;
3.
Trường Đại học Giáo dục:
Tiền thân là Trung tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ
Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức ;
4.
Trường Đại học Kinh
Thương ("Kinh Thương" là viết tắt của
"Kinh tế và Thương mại");
5.
Trường Đại học Khoa học
Cơ bản ;
6.
Trường Đại học Thiết Kế
Thị Thôn ("Thị Thôn" là viết tắt của
"Thành thị và Nông thôn");
7.
Trường Sau Đại học (tiếng
Anh: College of Graduate Studies), điều phối
các chương tŕnh đào tạo bậc Cao Học và Tiền Sĩ.
Giáo sư Nguyễn Thuỵ Ái là Khoa trưởng đầu tiên của viện
Đại Học này (và cũng là khoa trưởng cuối
cùng) .
(Xem thêm chi tiết trong bài Viện Đại Học
Bách Khoa Thủ Đức của cùng tác giả).
Rất tiếc, miền Nam sụp đổ ngày 30/4/1975
kéo theo sự tan vỡ của một kế hoạch phát
triễn đại học theo hướng của các quốc
gia tân tiến.
Sau năm 1976
,Trường bị đổi tên thành trường Đại
học Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức theo
quyết định số 426/TTg ngày 27.10.1976 của ngụy quyền cộng sản .
Tài liệu
tham khảo :
1.
file:///C:/Users/tuymai/Documents/Tuy%20Documents/Cao%20Dang-TAI%20LIEU/Su%20pham%20ky%20thuat%20-1.pdf 2 – Đại Học
Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh 50 Năm Xây Dựng
và Phát Triển Bền Vững.
2.
https://www.facebook.com/media/set/?set=a.500393113305488&type=3 Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật ngày xưa - 24/09/2012.
3.
https://ahvinhnghiem.org/caodangspkt.html Trường
tôi ( 2 ) - Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật
-21-2-2009 .
4.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần -
Chứng chỉ và văn bằng tốt
nghiệp ở miền Nam trước 1975.
5.
https://ahvinhnghiem.org/CaoThang/TroVeTruongXua.html - Trở
về Trường xưa.
6.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C6%B0_ph%E1%BA%A1m_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh Trường Đại
học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí
Minh .
7.
https://sites.google.com/site/truongkythuatcaothang/mucluc - Huỳnh Ái
Ṭng-Trường Tôi (1)- Louisville, ngày 31 tháng 3 năm 2001 .
8. Huỳnh Ái Tông - Tản
Mạn Về Trường Kỹ Thuật Nguyễn
Trường Tộ .
13 - Trường Cao Đẳng Sư Phạm
Nông Lâm Súc – Quận 1- Sài g̣n
Trường Cao Đẳng Sư Phạm
Nông Lâm Súc được thành
lập bởi Nha Học Vụ
Nông Lâm Súc vào năm 1963 hay 1966
để đào tạo giáo sư đệ nhất
và đện nhị cấp chuyên nghiệp
ngành Nông Lâm Súc .Đặc biệt là trường này có tên hiệu nhưng không có trường sở bất
động sản, v́ vậy không có địa chỉ .
(Xem thêm chi tiết về Nha Học Vụ
Nông Lâm Súc trong Phụ đề 1) .
Sau đây là sơ lược việc thành
lập trường Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm
Súc :
Theo tài liệu [1] : Từ năm học 1963-1964,
năm đầu tiên của chương tŕnh trung học
Nông Lâm Súc (NLS) đến
năm học 1973-1974, số trường trung học Nông
Lâm Súc tăng từ 3 lên 12 trường đệ nhị cấp,
28 trường đệ nhất cấp, và 3 trung tâm canh mục
sắc tộc .
(Xem thêm Sơ Lược Tổ Chức Giáo Dục Trung Học Nông Lâm Súc
trong Phụ đề 2).
Trong giai đoạn đầu, phần lớn
giảng viên trường Nông Lâm Súc là những kỹ sư
hoặc kiểm sự chưa được huấn luyện
sư phạm tại các trường đào tạo giáo chức.
Để cung cấp giáo sư chuyên nghiệp
cho các trường trung học Nông Lâm Súc , từ năm học
1966-1967, Nha Học Vụ Nông Lâm Súc hằng năm mở
các khóa cấp tốc đào tạo giáo sư đệ
nhất cấp, và từ năm học 1970-1971 mở
các khóa cấp tốc đào tạo giáo sư đệ nhị
cấp .
Tuy nhiên theo tài liệu [2] : Giáo sư, Bác sĩ Thú Y, Đặng Quan Điện khai sinh ngành Sư phạm NLS
đào tạo giáo sư dạy trung học đệ nhất
cấp và đệ nhị cấp,
đă đào tạo được 7 khoá (1963-1974).
(Phụ chú : Vậy th́ theo tài liệu [2] , các lớp đào tạo giáo sư chuyên nghiệp cho
các trường trung học Nông Lâm Súc đă được
bắt đầu từ năm 1963, trước
năm 1966 như đă viết trong tài liệu [1] ).
1 . Đào tạo
giáo sư trung học đệ nhất cấp Nông Lâm Súc
Khóa đầu tiên mở vào năm học 1966-1967,
theo nghị định số 472 - GD/PC/NĐ ngày 22 tháng 3
năm 1967, gồm các ban: Canh Nông, Mục Súc, Thủy Lâm,
Ngư Nghiệp, Công thôn, và Sinh Hoạt Gia Đ́nh.
Theo tài liệu [3] : Những ban này tăng hay giảm
tùy nhu cầu công vụ và khả năng ngân sách.
Thí sinh dự thi phải có Tú Tài 2 Nông Lâm Súc
hoặc văn bằng tốt nghiệp kiểm sự.
Thời gian đào tạo (giáo sư trung học
đệ nhất cấp) là 12 tháng, gồm 9 tháng học lư
thuyết ở trường và
3 tháng thực tập :
2 tháng tập sự tại các cơ sở chuyên môn, 1
tháng thực tập tại các trường trung học Nông
Lâm Súc và vùng nông thôn liên hệ.
1-1. Chương tŕnh học gồm 2 phần:
- Các môn chung về sư phạm và quản
trị cho tất cả các ban: 300 giờ lư thuyết và 200
giờ thực hành, chiếm 40% tổng số giờ học ;
- Các môn chuyên môn riêng cho từng ban, chiếm
60% tổng số giờ học.
Từ năm học 66-67 đến năm
học 71-72 đă mở được 6 khóa, đào tạo
553 giáo sư trung học đệ nhất cấp NLS.
Nhưng kể từ năm học 72-73,
theo nghị định số 33 VHGDTN/NLS/NĐ ngày 10 tháng 01
năm 1974 thời gian đào tạo (giáo sư trung học
đệ nhất cấp) là 2 năm.
1-2. Điều kiện nhập học:
- Quốc tịch Việt Nam;
- Nam phải hợp lệ t́nh trạng quân
dịch;
- Có văn bằng Tú Tài Nông Lâm Súc;
- Qua 2 kỳ thi: thi viết, thi khảo hạch
.
Hơn nửa ,theo tài liệu [3] :
Nam sinh viên từ 18 - 22 tuổi
;
Nữ sinh viên từ
18 – 24 tuổi;
Ứng viên công chức có
thể lùi lại số năm bằng số năm tiền
công vụ nhưng không được quá 5 năm;
Các ứng viên sắc tộc
có hạn tuổi 18-24 ;
Có một trong các văn bằng
sau đây :
Tốt nghiệp cấp
trung đẳng trường Quốc gia NLM Blao (cấp Kiểm
Sự) . Trong trường hợp không có đủ ứng
viên , cấp kiểm sự sẽ mở kỳ thi tuyển
những người có tú tài toàn phần Kỹ thuật NLS
để chọn thêm đủ số ấn định ;
Chương Tŕnh thi :
Chương tŕnh lớp 10-11-12 Trung học NLS và sau cuộc
thi thực hành diễn giảng.
1-3. Quá tŕnh đào tạo:
Giữa 2 năm học
có kỳ thực tập hè. Tổng số giờ toàn khóa là
1.920 giờ gồm :
- Sư phạm: 540
giờ ( 330 giờ lư thuyết + 210 giờ thực hành), chiếm
28% ;
- Ngoại ngữ: 60 giờ
;
- Khoa học cơ bản:
420 giờ ;
- Chuyên môn: 900 giờ .
Số giờ học
lư thuyết và thực hành của các môn khoa học cơ bản
và chuyên môn thay đổi tùy theo ban (theo chương tŕnh
đào tạo giáo sư trung học đệ nhất cấp
Nông Lâm Súc) :
BAN Khoa
học Cơ
bản Chuyên
môn
Lư
thuyết Thực
hành Lư thuyết Thực Hành
Canh nông 300
giờ 120
giờ 585 giờ
315 giờ
Mục súc 300
giờ 120
giờ 525 giờ 375 giờ
Công thôn 300
giờ 120
giờ 435 giờ
465 giờ
Sinh hoạt gia đ́nh 270 giờ 150 giờ 360 giờ
540 giờ
Các lớp học
được tổ chức ngay tại trụ sở Nha
Học Vụ Nông Lâm Súc (địa chỉ số 9
đường Mạc Đỉnh Chi ,Quận 1-Sài g̣n ) , gồm
một số pḥng học lư thuyết, không có pḥng thí nghiệm.
Các nhân viên giảng huấn và hành chính gồm những nhân sự
tại Nha Học Vụ NLS và một số giảng viên thỉnh
giảng.
1-4. Học bổng và phúc
lợi :
Giáo sinh được
hưởng nguyệt cấp 1.800 đồng và theo chế độ ngoại
trú.
Hơn nửa ,theo tài liệu [3] : Trong khi theo học : Sinh viên có thể
được cấp học bổng 1800 đồng/ tháng
trong suốt 12 tháng và được chuyên chở miễn
phí trong các cuộc đi thực tập, tập sự, nghỉ
hè, Tết.
(Phụ chú : Theo tài liệu [4] : Các sinh viên trường Cao Đẳng
Nông Lâm Súc (Sàig̣n) được
cấp học bổng toàn phần 1.500 $ đồng/tháng và
bán phần 750$ đồng/tháng . Và theo tài liệu [5] , số tiền học
bổng mà sinh viên Đại Học Sư Phạm - Viện
Đại Học Sài g̣n lảnh
từ khoảng năm 1960/1961 là 1.500 $VN/tháng và và đến
năm 1970 là 3.000 $ đồng /tháng . Như thế, sinh viên
trường Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc ,
trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sàig̣n và sinh viên Đại Học Sư Phạm
lảnh số tiền học
gần giống nhau . Các số tiền học bổng cấp này rất là hậu hỉnh bởi
v́ theo tài liệu [6] , vào khoảng
năm 1965, một công chức chính ngạch hạng A mới
tốt nghiệp đại học, lương căn bản
khoảng 6.700 đồng).
1-5. Điều kiện tốt
nghiệp :
Trong 2 năm học,
giáo sinh có điểm trung b́nh các môn học từ 12/20, soạn
12 đề tài diễn giảng, bốc thăm thi thực
hành một đề tài. Điểm tốt nghiệp tính
theo điểm trung b́nh cả hai năm học, điểm
tập sự và điểm thi cuối khóa.
Thống kê giáo sinh Ban Cao
đẳng Sư phạm NLS:
Khóa học Số
tốt nghiệp Ghi
chú
1 (1966-67) 25
2 (1967-68) 75
3 (1968-69) 110
4 (1969-70) 114
5 (1970-71) 116
6 (1971-72) 115
7 (1972-74) 85
Năm 1974 đang học .
Khóa CN MS CT SHGĐ Tổng cộng
7 (năm thứ 2) 29 27 14 15 85
8 (năm thứ 1) 33 32 15 15 95
Tổng cộng 62 59 29 30 180
(thống kê theo Danh sách giáo
sinh trong Kỷ yếu Nông Lâm Súc 1974. trang 12-13 - Nha Học Vụ
Nông Lâm Súc: Kỷ yếu Nông Lâm Súc 1974 ).
1-6 Số sinh viên tốt
nghiệp theo ban chuyên môn:
Năm (tốt nghiệp) GS TH ĐIC
CN TL MS NN
CT KTGĐ
1967 9
11 3
1968
30 8
29 8
1969 33 15
25
19 17
1970 34
27 19
14 20
1971 30
29 17
19
21
136
23 121 66
50
41
Tổng cộng 437
Ghi chú: GS TH ĐIC :
Giáo sư trung học đệ nhất cấp – CN : Canh nông – TL : Thủy lâm – MS : Mục súc
- NN: Ngư Nghiệp - CT: Công
thôn – KTGĐ : Kinh tế gia đ́nh
1-7. Lương bổng
-ngạch trật
Theo tài liệu [3] : Sau khi tốt nghiệp:
Sinh viên được bổ dụng làm giáo sư trung học
đệ nhất cấp ngành NLS hạng 5 với chỉ số
380 ;
Riêng đối với Sinh
viên công chức sẽ được bổ dụng làm giáo
sư trung học NLS với Trật có chỉ số
lương liền trên chỉ số lương trong ngạch
cũ và mất hết thâm niên trong ngạch cũ nếu chỉ
số được tăng từ 20 điểm trở
lên.
1-8. Các Trưởng Ban Cao
Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc:
- 1966-68 : Ô. Trần Thiện Chu, giảng
sư, Ms. in Animal Husbandry ;
- 1968-70 : Ô. Nguyễn Thanh
Vân, kỹ sư Súc khoa;
- 1970-72 : Ô. Phạm Phi
Hoành, giảng nghiệm viên, Bs in Agr. Engineering;
- 1972 : Ô. Đặng Hữu
Thạt, kỹ sư Điện tử.
Ban giảng huấn:
1. Cơ hữu:
Ban Canh nông:
- Cô Vơ Thị Thúy Lan,
giảng nghiệm viên, kỹ sư nông khoa;
- Ô. Nguyễn Hoàng Sơn,
giảng sư, Master of Agriculture;
- Ô. Nguyễn Hoài Đỉnh,
giảng nghiệm viên, Bs in Agri. Education;
- Ô. Vũ Quốc
Dũng, Bs in Agri. Education;
- Ô. Lê Châu Long, giảng
nghiệm viên, Bs in Agri. Education.
Ban Mục súc:
- Ô. Vương Quan
Phước, bác sĩ Thú y;
- Ô. Nguyễn Tuấn, bác
sĩ Thú y;
- Ô. Trần Hiệp Nam,
giảng sư, Ms in Animal Husbandry;
- Ô. Trần Thiện Chu,
giảng sư, Ms in Animal Husbandry;
- Ô. Nghiêm Xuân Thịnh, giảng
sư, Ms in Animal Husbandry;
- Ô. Huỳnh Kim Ngọc,
giảng nghiệm viên, kỹ sư Súc khoa;
- Ô. Vũ Đ́nh Chính, bác
sĩ Thú y;
- Bà Dương Thị Tuấn
Ngọc, kỹ sư Súc khoa.
Ban Ngư nghiệp:
- Ô. Hứa Văn
Túc, giảng nghiệm viên, kỹ sư Thủy lâm;
Ban Công thôn:
- Ô. Đặng Hữu
Thạt, kỹ sư Điện tử;
- Ô. Vũ Hùng
Chương, kỹ sư Điện;
- Ô. Đặng Ngọc
Sơn, kỹ sư Điện;
- Ô. Phạm Phi Hoành, giảng
nghiệm viên, Bs in Agri. Engineering.
Ban Sinh họat gia
đ́nh:
- Bà Đỗ Ngọc
Liên, Bs in Home Economic .
Ban Khoa học cơ bản:
- Ô. Nguyễn Trọng
Khôi, dược sĩ;
- Ô. Lâm Quan Tườn,
dược sĩ;
- Ô. Đinh Quang Trọng,
dược sĩ;
2. Thỉnh giảng:
- Ô. Bùi Như Hùng, kỹ
sư, giảng sư Nông học;
- Ô. Châu Tâm Luân, PhD. ;
- Ô. Nguyễn Kim Môn, kỹ sư Khí tượng
;
- Ô. Đặng Quan Điện, bác sĩ
Thú y ;
Theo tài liệu
[2] : Giáo sư Đặng Quan Điện
dạy môn Phương Pháp
giảng dạy Nông trại thực hành (1967-1975), Giáo dục
nông nghiệp (1972-1975).
- Ô. Vũ Ngọc Tân, bác sĩ Thú y ;
- Ô. Hà Văn Mơí, kỹ sư Súc khoa;
- Ô. Đinh Khang Hoạt,
Bs Mech. Eng. ;
- Ô. Nguyễn Ngọc
Châu, kỹ sư Nha Nông cụ .
- Ô. Hoàng Đ́nh Gia, kỹ
sư Nông cụ;
- Ô. Nguyễn Như Mộng,
kỹ sư Nông cụ ;
- Ô. Nguyễn Văn Hồng,
Kỹ sư Nông cụ;
- Ô. Lư Thi Nghĩa, kỹ
sư Thủy lâm;
- Ô. Lê Văn Đằng,
kỹ sư Thủy lâm;
- Ô. Ngô Bá Thành, bác sĩ
Thú y;
- Ô. Trần Văn Trí, cử
nhân Luật;
- Ô. Huỳnh Trung Hạt,
kỹ sư Súc khoa;
- Bà Nguyễn Thị Nữ,
giáo sư trung học;
- Bà Phùng Thị Bách, giáo
sư trung học;
- Bà Nguyễn Ngọc Anh,
kỹ sư Canh nông;
- Bà Nguyễn Thị Tần,
giáo sư trung học;
- Cô Trần Huệ Dung,
giáo sư trung học;
- Ô. Nguyễn Sơn Hà, giảng
nghiệm viên khoa học;
- Cô Nguyễn Thị Thanh
Xuân, giảng nghiệm viên khoa học;
2. Đào tạo giáo sư
trung học đệ nhị cấp Nông Lâm Súc
Khóa cấp tốc mở
vào năm học 1970-1971 tại Nha Học Vụ Nông
Lâm Súc, đào tạo giáo sư trung học đệ nhị
cấp NLS.
Khóa 2 và khóa 3 mở tại
Trường Đại Học Nông Nghiệp Sài G̣n gồm
các ban: Canh Nông, Mục Súc, Ngư Nghiệp, Công Thôn, Thủy
Lâm, Lư Hóa Nhiên.
Thí sinh dự thi phải
có văn bằng kỹ sư (đối với các ban
chuyên môn) hoặc cử nhân giáo khoa khoa học (đối với
ban Lư Hoá Nhiên). Thời gian học là 12 tháng gồm 10 tháng học
lư thuyết và thực hành, 2 tháng tập sự tại các
trường trung học NLS và vùng nông thôn liên hệ.
Chương tŕnh học
gồm 2 phần:
- Các môn chung về sư
phạm và quản trị cho tất cả các ban, chiếm
70% tổng số giờ học;
- Giảng dạy bộ
môn (riêng từng ban) chiếm 30% tổng số giờ học
;
Nội dung Lư thuyết Thực hành
Các môn sư phạm và quản
trị 420 giờ 290 giờ
Giảng dạy bộ
môn 200 giờ 100
giờ
Ngoài 3 khóa cấp tốc
(kể trên ?) , từ năm học 1972-1973, chương
tŕnh đào tạo 4 năm bắt đầu thực hiện
tại Trường Đại Học Nông Nghiệp. Thí
sinh dự thi phải có Tú Tài 2 phổ thông hoặc nông lâm
súc.
Dự Định
Tương Lai , theo tài liệu [3] : Kể từ
niên khóa 72-73 , thời gian học của sinh viên đệ nhất cấp là 2
năm,đệ nhị cấp là 4 năm.
Chương tŕnh huấn
luyện dự trù cho giáo sư đệ nhất cấp :
30% Sư Phạm và 70% Chuyên môn. Và 2 năm kế tiếp
để tốt nghiệp giáo sư trung học NLS đệ
nhị cấp : 20% Sư Phạm và 80% Chuyên môn.
Tài liệu [7]
trích theo kỷ yếu Nha Học Vụ NLS 1974, ghi Ban Cao
Đẳng Sư Phạm NLS hiện tại (năm 1973 hay1974 ?) có 182 giáo
sinh .
Đoạn văn sau
đây trích từ tài liệu [8] viết bởi một cựu sinh
viên khóa VII (1972-1974) (khóa cuối
cùng của trường Cao Đẳng Sư Phạm Nông
Lâm Súc ) cho thấy những điều kiện học tập
và chọn lựa nhiệm sở sau khi tốt nghiệp của
sinh viên :
‘’ Chính danh th́ có tên trường,
nhưng không có trường sở . Trụ sở Nha Học
Vụ Nông Lâm Súc Sàig̣n tại số 9 đường Mạc
Đỉnh Chi ,Quận 1-Sài g̣n, là nơi cưu mang các sinh
viên sư phạm NLS. Các lớp
học ké ở nhiều chỗ, lư thuyết lẫn thực
hành đều lưu động .
Cho nên cả trong lúc học
sinh viên ở các lớp ít có cơ hội gặp nhau trong
trường, hầu hết là dân xa nhà trọ học, chúng
tôi gắn bó với nhau qua các sinh hoạt tập thể của
lớp nhiều hơn.
Khóa VII trường Cao
Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc chiêu sinh năm 1972, ngoài
lớp Canh Nông, Mục Súc và Công Thôn c̣n có lớp Sinh Hoạt
Gia Đ́nh (SHGĐ) chỉ có
15 nữ sinh viên, nên chúng tôi hay gọi đùa tên khóa ḿnh
đầy đủ là Nông -Lâm Súc- Sinh; Và có lẽ sau khóa
chúng tôi chưa kịp chiêu sinh khóa kế tiếp, cho nên khóa
VII là út chót của trường và h́nh như lớp SHGĐ
cũng là lớp duy nhứt ? .
Theo chương tŕnh
năm thứ nhứt ,cả khóa cùng học chương
tŕnh khoa học cơ bản, lư thuyết, thực hành đều
lưu động, cho nên lớp tôi khi th́ học ở Thảo
Cầm Viên (Sở Thú), lúc th́ vào thí nghiệm ở Đại
Học Khoa Học -Sài g̣n, Đại Học Nông Lâm… học
lư thuyết thường ghép lớp tùy theo môn học, lớp
SHGĐ hay ghép với lớp Công Thôn, có khi cả khóa học
chung.
Sang năm thứ hai , th́
đi vào chuyên khoa, lư thuyết có các môn tâm lư sư phạm,
tâm lư nhi đồng, ngoại ngữ…Lớp tôi do cô Ngọc
Liên phụ trách trẻ đẹp rất mode được
đào tạo ở Mỹ về nhớ như cô là tiến
sĩ tâm lư, Như một người chị, cô Liên rất
gần gủi thân thương, truyền cho chúng tôi những
kiến thức cơ bản về giao tiếp, về
đối nhân xử thế, về thẩm mỹ quan
đời sống, và cả cách làm đẹp.
Cô Nữ phụ trách
các môn học nữ công gia chánh, chúng tôi tới học ở
nhà cô giáo. Cô cho đi thực hành ở nhà hàng, thông qua mối
quan hệ của cô giáo mà chúng tôi thường đi tham
quan thực hành ở những nhà hàng sang trọng thời
đó như Continental, Majectic, Hoàng Gia… Ở nhà hàng Majectic
trong một lần thực tập, tôi được tham
gia vào nhóm làm bánh cưới 7 tầng cho đám cưới
của nữ tài tử điện ảnh Thẩm Thúy Hằng
và ông Nguyễn Trọng Oánh .Rồi đi học cách
nuôi dạy con nít ở các trường mầm non quốc
tế hay ở các Hội Dục Anh ( nơi nuôi trẻ mồ
côi) …học vẻ, thêu thùa, đan móc, cắm hoa… ở các
trung tâm…và cô c̣n kết hợp tổ chức triển lăm mi
ni giới thiệu những sản phẩm chúng tôi làm ra…
Tháng 12 năm 1974 ,khóa VII
tốt nghiệp, c̣n nhớ lúc đó ngay trong ngày chọn
nhiệm sở chúng tôi lấy bản đồ nửa chữ
S đo độ dài bằng gang tay để ước
lượng khoảng cách xa gần tính từ Sài G̣n đối
với những địa danh trong danh sách nhiệm sở
có nghe tên mà chưa từng được đến và nhất
là xem đó có phải là vùng chiến sự ác liệt hay
không,
Hồi đó trước
khi nhập học và khi ra trường sinh viên đă phải
nộp một bản cam kết : Phục vụ bất
cứ nơi nào trên lănh thổ Việt nam cộng ḥa nếu
không tuân thủ phải chịu bồi hoàn toàn bộ chi phí
đào tạo rất lớn và không sẽ c̣n cơ hội
làm công chức.
Cái cách cho sinh viên chọn
nhiệm sở căn cứ vào kết quả học tập,
danh sách nhiệm sở được công bố trước
24 giờ, ghi rơ số lượng nhu cầu ở mỗi
trường, đến giờ th́ gọi sinh viên theo thứ
hạng, đă chọn th́ không được thay đổi,
tuy nhiên nếu giữa sinh viên đồng ư hoán đổi
cho nhau th́ cùng làm đơn gửi liền trong ngày sẽ
được chấp thuận. Trong danh sách phần lớn
là những nơi rất xa và lạ, thực ra những chỗ
tốt đă được giải quyết cho các trường
hợp có ưu tiên thuyên chuyển, sau nầy
cô tôi nói cho tôi biết như thế.
Hôm ấy ở lớp
Công Thôn ,bạn Mỹ Huy hạng 5 được gọi
tên nhưng vắng mặt, người hạng 6 là bạn
Bồ Văn Nguyệt chọn nhiệm sở Đà Lạt,
là nơi mà Huy dự định sẽ chọn, cuối buổi
Huy giận, bạn bè xúm nhau giải thích ḥa giải.
Ngày chọn nhiệm sở
cũng là ngày họp mặt cuối cùng của lớp
nhưng ai cũng lo lắng về cái nơi mà ḿnh sẽ phải
để bắt đầu một công việc mới nên
không ai quan tâm lưu luyến chuyện họp tan.
Ai mà biết cũng từ
ngày chúng tôi chọn vận mệnh cho ḿnh, sự trục trặc
nhỏ của Huy và Nguyệt khi ấy lại là bạn
Nguyệt đă chọn lấy số mệnh ngắn ngủi
của ḿnh, bởi v́ chỉ hơn hai tháng sau đó trên
đường chạy loạn,bạn Nguyệt đă bị chết
đuối ở biển Phan Thiết. C̣n nữa bao nhiêu số
phận thăng trầm của 110 bạn cùng khóa của
tôi từ sự lựa chọn ngày ấy có 2/3 nhiệm sở
ở vùng ngoài và Tây nguyên đều trăi qua cuộc trốn
chạy chiến tranh mang tên là di tản chiến thuật kể
từ tháng 3/1975.
Bây giờ nhớ lại,
kiến thức chuyên môn của một thời sư phạm
của tôi tuy không có cơ hội thực hành giảng dạy
trực tiếp v́ sau biến động thời cuộc
30-4-1975, hệ thống trường trung học nông lâm súc
không c̣n, tôi vẫn được đi dạy nhưng mà
phải chuyển qua dạy văn rồi làm quản lư,
nhưng những kiến thức cơ bản ấy với
tôi vô cùng quư giá cho bài học làm người trong cả cuộc
đời, có phải rằng nhờ vốn kiến thức
đa đoan như thế mà tôi đă có thể cân bằng
quan hệ đối xử, làm tốt được những
đa đoan trong công việc cũng như cuộc sống
của ḿnh ! ‘’ .
Theo tài liệu [1] : Năm học 1974-1975, tuyển sinh
vào năm thứ nhất tại trường Đại Học
Giáo Dục (Tiền thân là Trung Tâm Huấn Luyện Sư Phạm
Kỹ thuật Nguyễn Trường
Tộ Thủ Đức
) thuộc Viện Đại
Học Bách Khoa Thủ Đức.
(Phụ chú : Viện
Đại học Bách khoa Thủ Đức gồm có 7
trường đại học thành viên trong đó có Trường
Đại học Nông Nghiệp (Tiền thân là Trung Tâm Quốc
Gia Nông-Lâm-Súc, rồi Học viện
Quốc gia Nông Nghiệp (1972) . Xem thêm chi tiết trong bài Viện Đại Học Bách
Khoa Thủ Đức và bài Trường Cao
Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật của cùng tác
giả ) .
Sau ngày mất nước
, 30 tháng 4 năm 1975, tất cả giảng viên Ban Sư Phạm
Nông Lâm Súc tập trung về Trường Đại Học
Sư Phạm Kỹ Thuật (Trung
tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Nguyễn
Trường Tộ Thủ Đức ?) .
Phụ đề 1: Nha Học
Vụ Nông Lâm Súc
Theo tài liệu [7] :
Việt Nam là một quốc gia có sở trường
về Nông Nghiệp với những tài nguyên thiên nhiên: Nào là
vựa lúa miền đồng bằng sông Cữu Long, với
hàng trăm ngàn cây số sông ng̣i, kênh rạch chằng chịt,
hơn 2.200 cây số bờ biển và hằng triệu mẫu
rừng thuộc miền cao nguyên Trung phần, là những
kho tàng quí giá để nuôi sống dân tộc.
Trên đường xây dựng đất nước,
chánh phủ đă và đang đặt trọng tâm
vào công cuộc sản xuất với nền tảng là Nông
Nghiệp đóng góp một phần quan trọng vào việc
phục hưng phát triển kinh tế trong giai đoạn
sau chiến tranh.
Dân Việt Nam vốn hiền ḥa, nhẫn nại,có
tinh thần cầu tiến, dễ thích ứng với kỹ
thuật Nông Nghiệp tiến bộ.
Để phổ biến đến đại chúng
các kỷ thuật sản xuất Nông Nghiệp, ngành giáo dục
Nông Lâm Súc (NLS) bậc Trung Học đă được
Nha Học Vụ NLS thuộc Bộ
Văn Hóa Giáo Dục Thanh
Niên (VHGDTN) phát triển mạnh mẽ trên toàn quốc,
đáp ứng nhu cầu thiết thực của nông dân, các
con em của nông dân và thanh thiếu niên nông thôn.
Ngành học vụ NLS đă trải qua những giai
đoạn thăng trầm của đất nước,
hănh diện với vai tṛ đóng góp nhân lực cho nền
kinh tế nông nghiệp nước nhà.
Trước Thế chiến thứ 2 (1939-45) , số
nhân viên chuyên môn về các ngành hoạt động NLS tạm
đủ để ứng phó với nhu cầu của
các công sở và một số cơ sở khai thác tư
nhân. Những trường hay nói cho đúng là những khóa
huấn luyện đào tạo công chức cho các ngành này chỉ
là những trường chuyên nghiệp đào tạo nhân
viên cấp thừa hành gồm có:
-Một trường Cao đẳng Nông Lâm và một
trường Cao đẳng Thú Y ;
-Hai trường Nông Lâm Thực hành: Một trường
ở Tuyên Quang (Bắc Việt) và một trường ở
Bến Cát (Nam Việt) ;
-Một trường Nông Nghiệp Thực Hành ở
Xà No (Cần Thơ), lúc đó người ta quen gọi là
Trường Lúa Gạo Cần Thơ.
Đến Thế chiến thứ 2 bùng nổ, để
giúp số thanh niên trí thức có cấp bằng Tú Tài có
cơ hội tiến thân. nhà cầm quyền
đương thời đă mở thêm nhiều ngành đại
học như: Khoa Học, Công Chánh, Nông Lâm Mục và qua mấy
năm sau cải danh thành Trường Cao Đẳng Nông
Lâm Mục có 2 Ban Pháp và Đông Dương. Trường này
mở được tất cả là 6 khóa. Tuy nhiên trong khoảng
thời gian từ năm 1945 đến 1955, ngành học này
đă ngưng hẳn trên mọi cấp.
Năm 1955, Bộ Canh Nông đă chính thức thành lập
Nha Học Vụ Kỷ Thuật Canh Nông với các trường
trực thuộc chung cho 3 ngành Canh Nông, Thủy Lâm và Mục
Súc theo diễn tiến như sau:
a. Năm
1955, thành lập Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục B’Lao
với cấp Trung đẳng đào tạo tạo cấp
Kiểm sự ;
b. Năm
1957, thành lập Trường Canh Nông Thực Hành ở Cần
Thơ;
c. Năm
1958 thành lập Trường Canh Nông Thực Hành Huế đào
tạo cấp Huấn Sự;
d. Cuối
năm 1959 thành lập cấp Cao Đẳng tại
Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc
đào tạo Kỹ sư các ngành NLS ( ngày nay trở thành Học
Viện Quốc Gia Nông Nghiệp và sẽ được
chuyển về Viện Đại Học Bách Khoa Thủ
Đức).
Ngoài ra c̣n có những lớp ngắn hạn huấn
luyện nông dân về kỷ thuật nông nghiệp, những
lớp huấn luyện cán bộ như TÁ SỰ THÚ Y, CÁN BỘ
KHUYẾN NÔNG…do các cơ quan Bộ Canh Nông tổ chức.
Đến cuối năm 1961, tất cả cơ sở
giáo dục nông nghiệp trên được chuyển qua thuộc
thẩm quyền của Bộ Quốc Gia Giáo Dục với
danh xưng mới là NHA HỌC VỤ NÔNG LÂM SÚC đặt
tại số 9 Mạc Đỉnh Chi SàiG̣n và tổ chức
các cấp học được sửa đổi do 3 Nghị
định ngày 24/6/1963 như sau:
- Cấp Cao Đẳng Trường QGNLM đổi
thành Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc đặt tại
số 45, đường Cường Để Sài G̣n (khu
thành Cộng Ḥa cũ) ;
- Cấp Trung Đẳng Trường QGNLM Bảo Lộc
Trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Nông Lâm
Súc Bảo Lộc ;
- Hai Trường Canh Nông Thực Hành Cần Thơ và
Huế đổi thành hai trường trung học
đệ Nhị cấp NLS Cần Thơ và NLS Huế.
Trong các trường THNLS này c̣n có các lớp đào tạo
Kiểm sự, Huấn sự các lớp bán th́, ngay cả
các lớp huấn luyện ngắn hạn theo mùa.
Đến niên khóa 1973-74, Nha Học Vụ NLS quản
trị 40 trường THNLS gồm 23 Trường Trung học
NLS đệ Nhị cấp và 17 Trường Trng học
đệ Nhất cấp gồm 267 lớp (từ cấp
8 đến cấp 12), 1128 Giáo sư, 11.414 học sinh .
Ngoài ra c̣n có 6 Tư Thục NLS thu nhận 1138 học
sinh tư thục NLS.
Đến niên khóa 1974-75, lần lượt Nha Học
Vụ NLS sẽ mở ra 2 Trường THNLS Kiểu Mẫu
An Lạc và Trường Trung học NLS Trà
Canh.
Ngoài những lớp thông thường ,c̣n có những
khóa huấn luyện Nông Cụ Cơ Giới và 2 Trung Tâm lớp
đêm THNLS Bà Triệu (Chợ Lớn) và Đồ Chiểu
(Tân Định).
Ban Cao Đẳng Sư Phạm NLS hiện tại có
182 Giáo sinh và tại các trường Trung học NLS đệ
Nhị Cấp Cần Thơ, Bảo Lộc, Huế, B́nh
Dương có 256 sinh viên lớp đào tạo chuyên viên Cao
Đẳng các ngành Túc Mễ, Rau Hoa, Hoa Màu Phụ, Nông
Cơ, Kinh tế Nông Thôn, Nuôi Heo và Ngư Nghiệp. Trên các
trường THNLS toàn quốc đă có 68 chi đoàn Nông Gia
Tương Lai qui tụ trên 1.000 đoàn viên NGTLVN.
Với những diễn
tiến hoạt động vừa nêu trên, thiết nghĩ
ngành Giáo dục NLS bậc Trung học đă đáp ứng
theo đường hướng phát triển ngành Giáo dục
Nông Nghiệp của Chính phủ.
Việt Nam là một
nước Nông Nghiệp. Trong công cuộc phục hồi
và tái thiết xứ sở sau chiến tranh, Nông Nghiệp vẫn
là ch́a khóa căn bản để giải quyết mọi
vấn đề. Do đó việc đào tạo chuyên viên ,
cán bộ Nông Nghiệp và huấn luyện Nông Gia giỏi,
tiến bộ là công việc tối cần thiết cho
chương tŕnh trực tiếp hoặc gián tiếp yểm
trợ tăng gia sản xuất và hoàn tất các dự án
phát triển quốc gia và là một trong bốn công tác lớn
mà Chính Phủ đă chính thức đề ra cho năm
1974.
Tiến tŕnh giám đốc Nha Học Vụ Nông Lâm Súc
:
1- Ông Lâm Văn Văng.
2- Ông Lương Sĩ Chương.
3- Ông Đỗ Thúc Vịnh
4- Ông Đặng Quan Điện.
4- Ông Hà
Văn Thân.
Danh sách các
giám đốc Nha Học Vụ Nông Lâm Súc- H́nh trích từ tài liệu [9]
Tổ chức
nhân sự Nha Học Vụ Nông Lâm Súc dưới đời giám đốc
Hà Văn Thân :
1- Ông Hà
Văn Thân, Giám Đốc.
2- Ông Hứa
Văn Túc, Chánh sự vụ Hành Chánh và Học vụ.
3- Ông
Vương Quan Phước, Thanh tra viên.
4- Ông Vũ Quốc Dũng, Thanh tra viên.
5- Ông Trần Đắt Quới, Chủ sự pḥng
Hành chánh và Tài chánh.
6- Ông Châu Kim Lang, Chủ sự pḥng Học vụ và Khảo
thí.
7- Ông Phạm Hồng Hải, Trưởng Ban Khảo
thí.
8- Ông Vũ Minh Yên, trưởng Ban Học vụ.
9- Cô Trần Kim Thạnh, Trưởng Ban đặc
trách về các lớp chuyên viên và Cộng đồng.
10- Cô Trang Kim Phụng, Trưởng Ban Văn thư.
11- Ông Nguyễn Ngọc Khôi, Trưởng Ban
Lương bổng.
12- Ông Đỗ Hữu Kinh, Trưởng Ban Hành chánh.
13- Và Ông Phạm Đắc Tường, Trưởng
Ban Tư thục.
Ông Hà Văn Thân, Giám Đốc - H́nh trích từ tài liệu
[7]
Nhân viên Nha Học Vụ Nông Lâm Súc thời ông Hà Văn
Thân làm Giám Đốc - H́nh trích từ
tài liệu [9]
Nhân viên Nha Học Vụ Nông Lâm Súc thời ông Hà Văn
Thân làm Giám Đốc - H́nh trích từ
tài liệu [9]
Phụ đề 2 :
Sơ Lược Tổ Chức
Giáo Dục Trung Học Nông Lâm Súc
Theo tài liệu [3] :
A- Trường trung học
Nông Lâm Súc
1-Mục Đích:
Trường trung học
Nông Lâm Súc ( NLS) có mục đích :
đào tạo nông dân có
tŕnh độ kỹ thuật tiến bộ;
đào tạo chuyên viên phục
vụ nông nghiệp ;
huấn luyện phụ
nữ nông thôn thích nghi với đời sống và sinh hoạt
tiến bộ của gia đ́nh xă hội nông thôn;
mở những lớp dạy
nghề cho thanh thiếu nhi nông thôn,nông dân nâng cao tŕnh độ
nghề nghiệp và kiến thức nông thôn;
sửa soạn cho học
sinh lên lớp chuyên viên trung đẳng cấp 1 cấp 2 ,kỹ
sư và cao đẳng sư phạm NLS .
2- Các trường
trung học NLS
2-1. Trường
tiểu học cộng đồng NLS có tất cả 58
trường có lớp 6 và 7 NLS chia ra:
Vùng I : 7 trường
;
Vùng II: 13 trường
;
Vùng III : 13 trường
;
Vùng IV : 25 trường
.
Mục đích : Hướng
dẫn thiếu niên nông thôn làm quen với ngành học NLS và
chuẩn bị cho học sinh lên bậc trung học
NLS.
2-2. Trường Trung Học Nông Lâm Súc
Đệ Nhứt Cấp : Hiện có 17 trường tại
4 vùng chia ra như sau:
Vùng I : Quảng
Nam,Quảng Ngăi ;
Vùng II :Phú Yên ,Khánh
Ḥa,Đà Lạt,B́nh Thuận,Pleiku;
Vùng III : An Mỹ,Phước
Tuy;
Vùng IV :An Giang,Bạc
Liêu,Cái Bè,Hà Tiên,Kiến Phong,Kiến B́nh,Sa Đéc,Vĩnh
B́nh.
Mục đích:
Chuẩn bị cho học
sinh học lên bậc Đệ 2 Cấp
Chuẩn bị cho học
sinh lên học lớp chuyên viên trung đẳng cấp 1
NLS(hs không đủ điều kiện theo học Đệ
2 Cấp và muốn hoạt động ở cộng đồng
nông thôn) .
2-3. Trường trung học Nông Lâm Súc Đệ
Nhị Cấp: Hiện có tất cả 10 trường tại
các nơi sau đây:
Vùng I : Huế;
Vùng II :Bảo
Lộc , Ninh Thuận;
Vùng III :B́nh
Dương ,Tây Ninh,B́nh Tuy ;
Vùng IV :Cần
Thơ,Định Tường,Long An,Ba Xuyên.
Mục đích :
Thâu nhận học sinh
các trường Đệ nhất cấp ;
Đào luyện học
sinh có khả năng để tiếp tục lên bậc
Cao Đẳng và Đại học
;
Chuẩn bị cho học
sinh lên lớp chuyên viên trung đẳng cấp 2 để
trở thành nông dân tiến bộ hoặc hoạt động
trong mọi lănh vực sản xuất kỹ nghệ,thương
mă,tín dụng,biến chế,khảo cứu liên hệ
đến nông nghiệp.
Tổ chức ;
Sau khi qua lớp 9 học
sinh sẽ tiếp tục lên bậc đệ 2 cấp và bắt
đầu chọn ban theo sở thích,các ban gồm có:
Canh Nông : chương
Tŕnh nặng về phần canh tác ;
Mục Súc
: chương tŕnh nặng về phần
Chăn nuôi thú y;
Thủy Lâm : Chương
tŕnh nặng về phần khai thác rừng;
Công Thôn :
Chương tŕnh nặng về phần máy móc dụng cụ
dung trong nông trại.
3- Điều kiện nhập
học
3-1. Bậc Đệ
Nhất Cấp
Muốn nhập học lớp
8 NLS mọi học sinh dđều phải qua một kỳ
thi tuyển;
Nam từ 13-15 và nữ từ
13 – 18 tuổi (tính đến 31-12 năm mở cuộc
thi);
Đă học hết
chương tŕnh 6-7 phổ thông hoặc 6-7 Nông Lâm Súc Cộn
Đồng,đặc biệt cộn them 1/10 tổng
số điểm có được trong kỳ thi cho thí
sinh đă học qua lớp 6 -7 NLS Cộng đồng.
Hồ Sơ Dự Thi gồm
có :
Đơn xin dự thi có
dán ảnh ;
Khai Sinh ;
Bản Sao Văn bằng
Tiểu Học ;
Bản sao chứng chỉ
học tŕnh lớp 6-7 với điểm trung b́nh 10/20 trở
lên ;
Giấy cho phép của phụ
huynh học sinh có thị thực ;
Chứng chỉ sức
khỏe do bệnh viện Công Lập cấp (nộp sau khi
trúng tuyển).
Chương Tŕnh Thi :
Toán
hệ số 3
thời gian 1;30 h́nh thức
: 2 bài Toán
Lư
hóa
3
1:30
:câu hỏi giáo khoa + 1 bài toán
Vạn Vật
2
1:00
:một số câu hỏi
Kiến thức phổ
thông hs
2
1:00
:câu hỏi Công Dân,Sử Địa,Văn.
-Kiến thức
NLS
3
1:00
:câu hỏi chương tŕnh NLS.
3-2. Bậc Đệ Nhị
Cấp
a- Miễn qua các kỳ
thi tuyển: Những học sinh có văn bằng trung học
đệ nhất cấp NLS tuổi 13-17 cho nam sinh và 15 – 20
tuổi cho Nữ sinh (tính đến 31-12 năm mở cuộc
thi) .
b- Qua kỳ thi tuyển:
Trường hợp số học sinh miễn thi vượt
quá số dự tuyển hay trường hợp không đủ
học sinh dự tuyển th́ trường sẽ tổ chức
cuộc thi .
Hồ sơ Dự thi gồm
có (tương tự như bậc đệ nhất cấp
khác là Chứng chỉ hay văn bằng của lớp 9 và
không có giấy cho phép của phụ huynh)
Chương Tŕnh Thi
:Chương tŕnh lớp 9 trung học phổ thông.
*Môn thi,hệ số,thời
gian,h́nh thức giống như ở đệ nhất cấp.
4- Quyền Lợi
a/ Bậc Trung học
Đệ nhất Cấp:
-Học sinh sau khi học
hết bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp nếu
trúng tuyển bằng TH NLS sẽ tiếp tục lên lớp
10 bậc Đệ nhị Cấp.
-Nếu học sinh v́ lư
do ǵ không theo học Đệ nhị Cấp có thể theo
học lớp Chuyên Viên Trung Đẳng cấp một thời
gian học lớp này là 12 tháng và chỉ học chuyên nghiệp,Học
sinh tốt nghiệp sẽ đi làm ở các cơ quan
tư nhân hay công quyền.
b/Bậc Trung Học
Đệ nhị Cấp:
Học sinh sau khi học
hết bậc Trung Học Đệ nhị Cấp và đổ
bằng tú tài phần 2 NLS sẽ:
-Được Ưu
tiên miễn thi vào Trung Tân Quốc gia Nông Nghiệp nếu hội
đủ diều kiện
-Được dự
thi vào tất cả các trường Cao Đẳng và Đại
Học
-Được dự
thi vào lớp chuyên viên trung đẳng câp 2,thời gian học
là 12 tháng và chĩ học chuyên môn các ngành: Ngư Nghiệp
-Nông Cơ -Nuôi Heo – Nuôi Gia Cầm – Kinh tế Nông Thôn –Túc Mễ
- Thủy Lâm.
Sauk hi tốt nghiệp
sinh viên có thể được thâu nhận làm ở các
cơ quan công hoặc tư có liên quan đến ngành học.
B- Các Lớp Chuyên
Viên
I Mục Đích:
Ở các trường
TH NLS đệ nhị cấp ngoài các lớp 8 -12 NLS c̣n có
những lớp:
Chuyên Viên Trung đẳng
cấp 1
Chuyên Viên Trung đẳng
cấp 2
Các lớp này có mục
đích :
Huấn luyện cho học
sinh không đủ điều kiện lên học bận
Trung học Đệ nhị cấp hay Cao Đẳng;
Đào tạo chuyên viên có
đầy đủ khả năng chuyên môn về Nông nghiệp
để phục vụ moi5 lĩnh vực sản xuất,thương
mại.kỹ nghệ,tín dụng nông nghiệp.
II Các Trường Trung Học
Đệ Nhị Cấp có Lớp Chuyên Viên:
Huế
chuyên viên cấp 1 & 2
B́nh
Dương
2
Định Tường
1
Cần
Thơ
1
& 2
Ninh Thuận
1
III Tổ Chức
Lớp chuyên viên cấp 1
và 2 có học kỳ là 12 tháng (dự trù trong
tương lai là 24) chia ra như sau:
8 tháng học về các
môn chuyên môn;
4 tháng tập sự ở
các nông trại các cơ sở liên hệ đến ngành học.
Các lớp chuyên viên
trung đẳng cấp 1& 2 có những lớp sau :
Ngư Nghiệp – Nông Cơ –Nuôi Heo –Nuôi Gia Cầm – Kinh Tế
Nông Thôn –Túc Mễ - Cây Ăn Trái – Thủy Lâm.
IV Điều Kiện Nhập
Học
a- Lớp chuyên viên cấp
1 : Những học sinh có bằng Trung học đệ
nhất cấp NLS sẽ được nhập học lớp
chuyên viên trung đẳng cấp 1 nếu số học sinh
không quá số dự tuyển,Nếu quá sổ dự tuyển
phải qua một kỳ thi.Học sinh muốn dự thi phải
có những điều kiện sau:
ü
Hạn tuổi:
được 16 tuổi và không quá 17 tính đến 31-12
năm mở cuộc thi với học sinh sắc tộc hạn
tuổi từ 16-19
ü
Học Lực:
có văn bằng TH đệ nhất cấp ngành NLS.
Chương tŕnh thi : gồm
4 bài viết dưới h́nh thức một số câu hỏi
soạn theo chương tŕnh NLS tùy theo các môn thi liên hệ.
b- Lớp chuyên viên trung
đẳng cấp 2:
Những học sinh có bằng
tú tài 2 NLS sẽ được nhập học lớp
CVTĐ cấp 2 nếu số học sinh không quá số dự
tuyển.Nếu quá số dự tuyển th́ phải qua một
kỳ thi tuyển.Muốn dự thi HS phải có những
điều kiện sau:
ü
Nữ từ
18-24 Nam từ 18-20 tuổi tính đến 31-12 của
năm thi;
ü
Hạn tuổi
có thể lùi tối đa cho công chức bằng số
năm tiền công vụ nhưng không quá 10 năm;
ü
Ứng viên
người sắc tộc:hạn tuổi từ 18-24 tính
đến 31-12 năm thi ;
ü
Học lực
có bằng Tú Tài phần 2 kỹ thuật ngành NLS thuộc
ban liên hệ.
Hồ sơ thi
A- Nộp trước khi
thi :
Đơn xin dự thi ;
Giấy phép cha mẹ ;
Bản sao văn bằng
TT 2 NLS;
Giấy cam đoan bằng
ḷng phục vụ trong cơ quan chính phủ sau khi tốt
nghiệp trong thời gian 10 năm,có thị thực chánh
quyền ;
-Giấy chứng nhận
sắc tộc nếu là ứng viên sắc tộc.
B- Nộp sau khi trúng tuyển
:
1 trích lục tư pháp lư
lịch không quá 6 tháng tính đến ngày nhập học ;
1 chứng chỉ hạnh
kiểm không quá 3 tháng tính đến ngày nhập học;
1 chứng chỉ sức
khỏe do bệnh viện công lập cấp ;
Thí sinh công chức không phải
nộp chứng chỉ Hạnh Kiểm ,tư pháp lư lịch
nhưng phải kèm giấy cho phép dự thi của trưởng
cơ quan liên hệ cấp.
Chương Tŕnh Thi : Gồm
4 bài viết dưới h́nh thức một số câu hỏi
soạn theo chương tŕnh lớp 10-11-12 trung học
NLS.
V- Học Sinh có bằng
Chuyên viên Trung Đẳng (CVTĐ)
Cấp 1 và Cấp 2 được hưởng quyền
lợi ǵ ?
a- Học sinh tốt nghiệp
các lớp CVTĐ cấp 1 có thể được bổ
dụng tại các cơ quan chính phủ với chỉ số
lương 250.Làm việc tại các Nông trại,các đồn
điền ,các xí nghiệp liên hệ đến nông nghiệp
và hưởng lương rất hậu cho việc trông
nom cơ sở sản xuất của ḿnh v́ đă thu hoạch
được nhiều lợi tức.
b- Sinh viên tốt nghiệp
các lớp CVTĐ cấp 2 có thể được bổ
dụng tại các cơ quan chính phủ với chỉ số
lương 350 .
Làm việc tại Nông trại,đồn
điền xí nghiệp,ngân hàng nông thôn và được
hưởng lương rất hậu.
Là nhà sản xuất giỏi
có nhiều lợi tức nâng cao đời sống cá nhân
và kinh tế quốc gia.
Tài liệu tham khảo :
1. https://thnlscantho-4.page.tl/Cao-%26%23273%3B%26%237861%3Bng-s%26%23432%3B-ph%26%237841%3Bm-NLS.htm CĐ Sư Phạm NLS - Châu Kim Lang.
2. https://nls.hcmuaf.edu.vn/contents.php?ids=23985&ur=nls&lng= Thầy Đặng Quan Điện – Nhà Giáo Dục
Nông Nghiệp Miền Nam .
3. https://nonglamsuctayninh.com/hinh-anh/389-nen-giao-duc-nong-lam-suc.html Nền giáo dục Nông Lâm Súc 09 Tháng 8 2011 Viết Bùi
Tho - In và tŕnh bày tại Trung Tâm Chuyên Nghiệp Phan Đ́nh
Phùng – Số 2 ,đường Phạm Đăng Hưng-
bởi Bùi Tho .
4. https://nonglamsuctayninh.com/hinh-anh/347-nhung-thang-ngay-voi-truong-cd-nong-lam-suc-sai-gon.html Những Tháng Ngày với
Trường CĐ Nông Lâm Súc Sàig̣n - Viết bởi Trần Văn
Đạt -07/06/ 2011.
5. https://daihocsuphamsaigon.org/index.php/vainetvetruong Cựu sinh viên ĐHSP Sàig̣n-Vài nét về
trường ĐHSP Sàig̣n-Phạm Thị Nhung, ban Việt
Hán - ĐHSPSG, khóa 1958-1961 bổ túc.
6. Tieng Dan- Đôi điều
về lương bổng, phụ cấp của quân
nhân-công chức miền Nam trước tháng 4.1975 (Phần
1)-Bởi AdminTD-Lê Nguyễn 27/10/2022.
7. http://lientruong-thnls.com/link/tu-lieu-ve-nha-hoc-vu-nong-lam-suc-trich-theo-ky-yeu-nha-hoc-vu-nls-1974- Tư liệu về Nha Học Vụ Nông
Lâm Súc - Trích theo kỷ yếu nha học vụ NLS 1974.
8. https://khoa2lamnghiephue.com/news/thay-co/cao-dang-su-pham-nong-lam-suc-mot-thoi-da-xa Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc - Một thời Đă Xa- Phan Thị Thúy Truyển - Khóa VII CĐSP -NLS- SG .
9. https://nonglamsuctayninh.com/hinh-anh/223-hinh-anh-tu-lieu-ve-nha-hoc-vu-nls.html h́nh ảnh
tư liệu về Nha Học Vụ NLS 09 Tháng 2 2011 .
14- Phụ lục : Những mốc thời gian quan trọng trong quá tŕnh xâm chiếm Việt Nam và xây dựng các hạ tầng cơ sở thiết yếu bởi người Pháp :
Ngày 29 tháng 1 năm 1859 :
Pháp
chiếm Thành
Phụng (thành Gia
Định). Pháp gọi Thành này
là ‘’Citadelle de Saigon’’ ;
Năm 1859 : Ngay sau khi
trận chiến chiếm
Thành Phụng
chấm dứt, Pháp xây Cimetière Européen (sau này là Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi khu Tân Định-Sài
g̣n) ;
Ngày 22 tháng 2 năm 1860 : Pháp xây Thương Cảng Sàig̣n ;
Năm
1860 : Pháp thành lập "
Sở Dây Thép" Sàig̣n (sau là
Bưu điện Sàig̣n) và được xây cất
lại năm 1886 ;
Tháng 2
năm 1861 : Pháp tấn
công và chiếm
được Đại đồn Kỳ Ḥa (Chí Ḥa)
của Nguyễn Tri Phương ;
Ngày 11
tháng 4 năm 1861 : Đô Đốc Charner ban hành nghị định
thiết kế quy hoạch Saigon Cholon. Phó Đô Đốc
Bonard thừa hành giao cho Đại Tá công binh Coffyn thực
hiện quy hoạch xây dựng thành phố Sàig̣n nhằm
đáp ứng công cuộc khai triển kinh tế và tăng
cường khả năng lưu thông và vận chuyển
thương thuyền, hàng hóa với miền Tây và Trung ;
Năm
1861 : Đô Đốc
Bonard ra lệnh thiết lập
ụ tàu ở Xưởng Thủy (hay Thủy Xưởng) (Arsenal - Cơ xưởng
Thủy Quân sau là Xưởng
Ba Son) để sửa
chữa tàu chiến, tàu buôn từ Châu Âu sang, cũng như
đóng tàu chiến mới ;
Năm 1861 : Pháp mở trường Collège d'Adran ở Sài g̣n để dạy
chữ Quốc Ngữ và Pháp
Văn cho các học viên người Việt và cả
người Pháp để đào tạo ra thông ngôn và thơ kư làm vịêc hành chánh dân sự trong
những năm đầu sau khi người Pháp thiết lập các cơ quan cai
trị thuộc địa Nam Kỳ.
Năm 1862 : Pháp thành lập
Bệnh viện Quân
sự (Hôpital militaire) ở
Sàig̣n cho Quân đội Pháp (sau là Bệnh viện Grall - bệnh viện Đồn
Đất) ;
Ḥa ước Nhâm
Tuất (1862) : Triều đ́nh Huế phải
nhượng cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ và
Côn Đảo với tất cả chủ quyền và bồi thường chiến
phí với số tiền lên đến 4 triệu franc (quan)
Pháp (tương đương 2.880.000 lạng bạc)
trong ṿng 10 năm ;
Ngày 8 tháng 5
năm 1862 : Pháp thành lập trường Thông
ngôn (Collège des Interprètes) ở Sảig̣n và năm 1905 tại
Hà Nội dạy các quan cai trị (Tham Biện) .Trường
này sau đổi tên là Collège des Stagiaires (Collège des Administrateurs
Stagiaires) dùng để đào tạo quan cai trị thuộc
địa. Giáo sư gồm nhiều nhà thông thái như
Luro, Chéon, Trương Vĩnh Kư (Sĩ Tải),
Trương Minh Kư (Thế Tải), vân vân ;
Năm 1864 ( hay 1865) : Pháp quản trị bệnh viện Chợ
Quán xây dựng bởi người Việt vào năm 1862 ;
Năm 1867 : Pháp chiếm thêm 3
tỉnh miền Tây c̣n lại của Nam Kỳ;
Hiệp ước Giáp Tuất 1874 (ngày 15 tháng 3 năm 1874 ) : Hiệp
ước có nội dung chính là thay thế bản Ḥa
ước Nhâm Tuất (1862) . Theo đó, để Pháp lui binh khỏi
Bắc Kỳ, nhà Nguyễn đồng ư cắt
nhượng chủ quyền ở 6 tỉnh Nam Kỳ cho
Pháp, chấp nhận việc ngoại giao phải lệ
thuộc vào Pháp, mở cửa cho Pháp tự do buôn bán
tại các hải cảng và
trên sông Hồng, có quyền tự do truyền đạo
Thiên Chúa. Chủ quyền lănh thổ và nền độc
lập của Việt Nam đă gần như bị
mất sau hiệp ước này.
Từ
năm 1874 : Pháp xây chợ Cầu Ông Lănh ở Sài g̣n . Xét về mặt kinh
tế, chợ Cầu Ông Lănh là chợ quan trọng bậc
nhất ở thành phố Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia
Định. Đây là chợ đầu mối. Tất cả
hàng hoá, lúa gạo, rau cỏ, hoa quả, trái cây, gà heo, cá tôm,
cây kiểng, bông hoa... từ Lục Tỉnh và miền
Đông đổ về đây để bán sĩ cho các chủ
vựa. Sau đó các chủ vựa này phân phối bán
lại cho các chợ trong địa bàn, để sau cùng
bán lẽ tới tay người tiêu thụ. Từ nhiều thế
hệ, chợ này đă tạo ra hàng trăm, hàng ngàn công
ăn việc làm và góp phần làm giàu có thịnh
vượng sung túc cho thành phố Sàig̣n nói riêng và cả
miền Nam Việt Nam nói chung ;
Năm 1874 : Pháp xây
trường tiểu vả trung học Collège Chasseloup-Laubat
ở Sàig̣n (sau là Lycée
Jean-Jacques Rousseau, trung học Lê Qúy Đôn) ;
Năm 1874 : Pháp xây trường
tiểu vả trung học Lasan Tabert ở Sài g̣n ;
Năm
1877 : Pháp xây
Vương Cung Thánh Đường Sàig̣n ( sau là Nhà Thờ Đức Bà) ;
Năm 1879 : Pháp xây trường
trung học Collège de My Tho - Collège Le Myre de Vilers- tức
trường Nguyễn Đ́nh Chiểu sau này ;
Năm 1880 : Pháp đưa vào hoạt động hệ
thống cung cấp và phân phối nước đầu
tiên ở Sàig̣n, mang tên Thévenet , kỹ sư cầu
đường, giám đốc Sở Công Chính . Năm 1900,
hệ thống này vẫn là tài sản thuộc chính quyền
Pháp-Sài G̣n nhưng việc quản lư, vận hành, bảo tŕ
được giao thầu cho Công ty Điện Nước
Đông Dương (CEE) ;
Ngày 7/12/1881 : Hệ thống xe lửa Saigòn Chợ Lớn,
Sai Gòn Gò Vấp-Hóc Môn được
đưa vào hoạt động ;
20/7/1885. Tuyến xe lửa đầu tiên Saigon
Mỹ Tho dài 70km được đem vào
vận hành
Ḥa ước Quư Mùi (Harmand) 1883 :
Hoà ước có tất cả 27 điều khoản
với nội dung chính là xác lập quyền bảo hộ
lâu dài của Pháp trên toàn bộ Việt Nam. Hiệp
ước này chính thức đánh dấu thời kỳ,
1883-1945, toàn bộ Việt Nam nằm dưới sự
khống chế của thực dân Pháp (thời Pháp
thuộc ) : Nam Kỳ lá xứ thuộc địa từ
năm 1874 nay được mở rộng gồm cả
tỉnh B́nh Thuận thay v́ B́nh Thuận thuộc Trung Kỳ
;Trung Kỳ tức các tỉnh từ Khánh Hào ra đến Đèo
Ngang thuộc triều đ́nh Huế ; Ở Bắc Kỳ
(gồm cả ba tỉnh Thanh Hóa - Nghệ An- Hà Tĩnh) Pháp có quyền đặt công
sứ ở các tỉnh để kiểm soát quan Việt
nhưng đại để việc nội trị không
bị ảnh hưởng;
Ḥa ước Giáp Thân 1884 hay
c̣n có tên là Ḥa ước Patenôtre : Chia nước
Việt Nam ra làm ba xứ: Bắc Kỳ (Tonkin), Trung
Kỳ (Annam), Nam Kỳ (Cochinchine) dưới ba
chế độ khác nhau; Mỗi kỳ có một chế
độ cai trị riêng như là ba nước riêng
biệt : Nam Kỳ là
xứ thuộc địa Pháp; Bắc Kỳ và Trung Kỳ
là xứ Pháp bảo hộ nhưng triều đ́nh nhà
Nguyễn trên danh nghĩa vẫn được quyền
kiểm soát. Trả các tỉnh Thanh Hóa,Nghệ An và Hà Tĩnh trước
thuộc Bắc Kỳ nay thuộc về Trung Kỳ và
trả tỉnh B́nh Thuận trước thuộc Nam Kỳ
hoàn lại cho Trung kỳ;
Từ năm 1884 tới 1888 :
Pháp xây Nhà thờ Lớn Hà Nội (Nhà thờ chính ṭa Thánh
Giuse, cũng gọi là Nhà thờ chính ṭa Hà Nội) ;
Ngày 20/7/1885 : Tuyến
xe lửa đầu tiên Saigon Mỹ Tho dài 70 cây
số được đem vào vận hành ;
Năm 1891 : Pháp thành lập Viện Pasteur ở
Sàig̣n ;
Vào ngày 23 tháng 10 năm 1896 : Trường Quốc
Học Huế được thành lập ;
Năm 1897 : Nhà máy điện đầu tiên
của Sàig̣n do Công ty Điện lực Sàig̣n (Société
d’Electricité de Saigon, lập năm 1896) của Hermenier và
một số người khác góp vốn được xây
dựng xong. Vị trí của nhà máy này ở gần
đường Nationale (sau là đường Hai Bà Trưng
ở địa điểm trụ sở Công ty Điện Lực Việt
Nam, ngay phía sau Quốc Hội) ;
Năm 1898 : Pháp thành
lập trường Cours d’Apprentissage, tiền thân của
trường kỹ thuật Nguyễn
Trường Tộ -Sàig̣n để đào tạo
thợ lành nghề phục vụ cho nghành đóng và sửa
tàu bè của Hải quân Pháp tại Arsenal -
Cơ xưởng Thủy Quân Pháp ;
Năm
1898 :
Pháp bắt đầu xây dựng pont Paul-Doumer (Cầu
Long Biên) trên sông Hồng;
Tháng
5 năm 1899 : Cầu Trường Tiền hay
cầu Tràng Tiền bằng sắt bắt qua sông
Hương do hăng Schneider et Cie
et Letellier thiết kế và xây dựng . Cầu
được khánh thành vào
ngày 18 tháng 12 năm 1900 ;
Năm 1902 : Pháp thành lập Đại học Y Dược-
Hà Nội ;
Năm 1902 : Với mục
đích đào tạo người Việt giúp việc cho
các cơ quan Công Chính , Pháp thành lập trường Công Chính
đầu tiên đặt tại
Hà Nội có tên Trường Thư Kư và Cán Sự Chuyên
Môn Công Chính (École des Secrétaires et Agents Techniques des Travaux
Publics) và do Nha Tổng Thanh Tra Công Chính Đông Dương
điều hành. Trường Cao Đẳng Công Chánh Sài g̣n
là hậu thân của trường này ;
Năm 1902 : Pháp hoàn thành xây
dựng cầu B́nh Lợi trên
sông Sàig̣n ;
Năm 1904 : Pháp thành lập nhà thương bảo hộ
(Hôpital Indigène du Protectorat)- Sau
là bệnh viện Yersin
(1943), bệnh viện Phủ Doăn (1954) ;
Từ năm 1904 :
Pháp mở ngành đào tạo
Thú Y tại Việt Nam để
pḥng chống dịch bệnh gia súc và thanh tra thú sản .Qua
nhiều cải tổ, vào năm 1938 ,Pháp thành lập tại
Hả Nội trường Chuyên Nghiệp Nông Lâm Đông
Dương (École Spécial d’Agriculture et de Sylviculture) .Trường
này là tiền thân của trường Nông Lâm Mục (sau là Cao Đẳng
Nông Lâm Súc Sàig̣n , Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp ) ;
Năm 1904 hay 1906 : Pháp thành
lập École des Mécaniciens Asiatiques (Trường Cơ Khí Á Châu) ,tiền thân của
trường kỹ thuật Cao Thắng - Sài g̣n
1904 để đào tạo thợ máy và tài xế lái xe cho
Hải Quân Pháp và kỹ nghệ hàng hải tại Arsenal (Thủy Xưởng) . Đây là cái nôi xuất phát Trường
Cao Đẳng Hàng Hải ;
Năm 1908 : Pháp thành lập Lycée du Protectorat (Trường Trung học Bảo
hộ) thường được gọi với tên
tiếng Việt là Trường Bưởi ở Hà
Nội. Năm 1945, trường được đổi
tên thành Quốc lập Trung học hiệu Chu Văn
An ;
Vào thập niên 1910 : Pháp cho đào Kinh Đôi ở Sài g̣n,
đến năm 1919 th́ hoàn thành. Kinh này trở thành một
trong những con kinh huyết mạch của hệ
thống thương cảng
Sàig̣n lúc bấy giờ ;
Năm 1912 : Công ty Điện Nước Đông
Dương (Compagnie des Eaux et d'Électricité de l'Indochine - CEE)
đưa vào sử dụng nhà máy điện Chợ Quán
(nhà đèn Chợ Quán);
Năm 1913 : Pháp xây chợ
Bến Thành mà người
ta thấy ở bùng binh Sàig̣n ngày nay;
Năm 1913 : Pháp thành lập trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ
Thuật Gia
Định,tỉnh Gia Định;
Năm 1915 : Pháp thành lập trường Nữ
trung học Gia Long-Sàig̣n ;
Năm 1917 : Pháp thành lập trường
Pháp Chính Đông Dương (École de Droit et d’Administration) tại Hà Nội, tiền thân của Đại học Luật Khoa Sài g̣n ;
Năm 1917 : Pháp thành lập trường
Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương (École
Supérieure de Pédagogie) tại Hà Nội , tiền thân của trường
Đại Học Sư Phạm Sàig̣n ;
Năm 1917 : Pháp thành
lập trường trung học Collège de
Can tho, sau mang tên Phan Thanh Giản-Đoàn Thị
Điểm ;
Năm 1919 : Pháp thành lập trường trung học
Albert Sarraut Hanoi ;
Năm 1922 : Pháp thành lập École Normale d’Instituteurs (École Normale) tại Sàig̣n
để đào tạo giáo viên bậc sơ học
và tiểu học ;
Năm 1922 : Pháp thành
lập Sở Hải Dương Học Đánh Cá
Đông Dương (Service océanographique des pêches de l'Indochine) tại
Nha Trang , năm 1930 đổi thành Viện Hải
Dương Học Đông Dương ,sau là Hải Học
Viện Nha Trang ;
Năm 1924 : Pháp thành lập trường Cao Đẳng
Mỹ Thuật Đông Dương ở Hà
Nội, tiền thân của Trường Cao Đẳng Mỹ
Thuật Sàig̣n ;
Năm 1924 : Pháp thành lập trường Đại Học Kiến Trúc ,
nguyên là một ngành của trường Cao Đẳng Mỹ
Thuật Đông Dương tại Hà Nội;
Năm 1927 : Pháp thành
lập trường trung học Petrus Kư-Sài g̣n ;
Năm 1930 : Pháp xây phi trường Tân Sơn Nhứt – Gia
Định ;
Năm 1941 : Pháp thành lập trường Cao Đẳng
Khoa Học Đông Dương (École Supérieure des Sciences) tại
Hà Nội ,tiền thân của Đại Học Khoa Học
Sàig̣n .