05- Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (Sàig̣n) - Số 45 đại lộ Cường Để-Quận 1-Sàig̣n

Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (Sàig̣n) là hậu thân của trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Bảo Lộc dời về địa điểm số 45, đại lộ Cường Để-Quận 1-Sàig̣n vào năm 1963.

Sau đây là sơ lược việc thành lập Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (Sàig̣n) :

Theo tài liệu [1] :

Về lịch sử nông nghiệp, nền giáo dục nông lâm chỉ bắt đầu xuất hiện trong thời Pháp thuộc. Bên cạnh các pḥng, viện, cục nghiên cứu và sản xuất, người Pháp đă thiết lập các trường nông lâm để đào tạo chuyên viên phục vụ nhà nước cai trị và các ngành khảo cứu để tăng gia sản xuất trong nước .

Theo tài liệu [2] :

Từ năm 1904, người Pháp đă mở ngành đào tạo Thú Y tại Việt Nam  để pḥng chống dịch bệnh gia súc và thanh tra thú sản .

Năm 1906,trường Thú Y Hà Nội được thành lập  và được xem như một ban của Trường Y Khoa Hà Nội. Nhiệm vụ đào tạo bác sĩ Thú Y được giao cho trường Y khoa này.

Đến năm 1910, ban Thú Y của trường Y khoa Hà Nội và bệnh xá Thú Y được đổi  thành trường Thú Y Bắc Kỳ và được  tách ra khỏi trường Y Khoa Hà Nội .

Năm 1917, trường Thú Y Bắc Kỳ trở thành trường Thú Y Đông Dương.

Năm 1918, trường Cao Đẳng Nông Lâm Hà Nội được thành lập  với thời gian học 2 năm rưỡi và một khóa thực hành 9 tháng tại các sở nông lâm hay các đồn điền tư nhân.

Cùng năm 1918 này, trường Canh Nông Thực Hành Tuyên Quang được thành lập   nhằm đào tạo các nhà trồng trọt bản xứ hoặc phụ giúp các chuyên viên Châu Âu .

Trong miền Nam , trường Nông Lâm Thực Hành Bến Cát được thành lập từ 1917 có mục đích như trường  Canh Nông Thực Hành Tuyên Quang, nhưng ít người theo học v́ khó t́m việc làm. Năm 1926, trường Nông Lâm Thực Hành Bến Cát  được đổi thành Trại Nông Nghiệp dành đào tạo những giám thị canh tác ở đồn điền.

Theo tài liệu [3] :

Do nghị định ngày 15 tháng 8 năm 1938 của Toàn Quyền Đông Dương, trường Chuyên Nghiệp Nông Lâm Đông Dương (École Spécial d’Agriculture et de Sylviculture) được thành lập tại Hà Nội .Trường này là tiền thân của trường Nông Lâm Mục (sau là Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sàig̣n , Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp ).

Năm 1954, hiệp định Genève được kư kết, chia đôi nước Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Miền Bắc bị  đặt dưới chế độ cộng sản độc tài  đảng trị, c̣n miền Nam thuộc chính thể quốc gia tự do  nhân bản.

Theo tài liệu [2] :

Sau năm 1954, trường Quốc gia Nông Lâm Mục B’Lao, tiền thân của Đại học Nông Lâm được thành lập tại miền Nam .

Do  bởi Nghị Định 112 BCN/NĐ của Bộ Canh Nông-Việt Nam Cộng Ḥa, ngày 19 tháng 11 năm 1955 ,Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao (Bảo Lộc) được thành lập tại tỉnh Lâm Đồng- Miền Nam Việt Nam, trực thuộc Nha Học Vụ Kỹ Thuật và Thực Hành Canh Nông, Bộ Canh Nông.

Theo tài liệu  [4]  :

V́ đă được dự kiến từ năm 1950, việc xây dựng trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao( (QGNLM Blao) được được khởi công vào năm 1954 và đến ngày 12 tháng  11 năm 1955,  trường này đă có thể tiêp nhận khóa 1 gồm 60 sinh viên được trúng tuyển qua kỳ thi tuyển 1.200 thí sinh.

Tuy nhiên theo tài liệu [5] : Trường Quốc gia Nông Lâm Mục B’Lao được thành lập từ một cơ sở đă có sẵn. Vào năm 1930, Nha Khảo Cứu Đông Dương thành lập tại làng Công Hinh một Trung Tâm Thực Nghiệm. Đó là cơ sở đầu tiên của người Pháp dùng để nghiên cứu, thử nghiệm cây trồng, vật nuôi cho cả nước. 

Sau hiệp định Genève 1954, Trung Tâm Thực Nghiệm này được Bộ Canh Nông nâng cấp thành Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục, trực thuộc Bộ Cải Cách Điền Địa và Canh Nông.

Theo tài liệu [2] :  Trường  QGNLM Blao  đào tạo ba ngành Canh Nông, Thủy Lâm và Mục Súc (sau này mới thêm ngành Công Thôn) .

 

 

Huy hiệu của  trường Quốc gia Nông Lâm Mục – H́nh trích từ tài liệu [6]

-Màu vàng bên trên  huy hiệu  nói  đến tinh anh quí phái truyền thống dân tộc ta
-Màu xanh thiên thanh nền tượng trưng cho hy vọmg ;

-Nhành bông lúa tuộng trưng cho Canh Nông ;

-Cây thông tượng trưng cho Thủy Lâm ;

-Đầu trâu  tượng trưng cho Mục Súc .

Các biểu tượng trên  như Bông lúa có Màu Vàng,Cây Thông Màu Xanh lá cây,Đầu Trâu màu Đỏ các màu Vàng,Xanh,Đỏ cũng thể hiện cho ba Ban Canh Nông,Thủy Lâm,Mục Súc 

Theo tài liệu [4] : Trường Quốc gia Nông Lâm Mục (QGNLM) Blao tọa lạc trên một thửa đất ph́ nhiêu ước lượng khoảng 500 mẩu, trên quốc lộ 20, phía Tây Thị xă Bảo Lộc.  Chung quanh Trường là núi, rừng và các đồi chè xanh, nên phong cảnh rất hữu t́nh.  Trường QGNLM nguyên thủy được biết dưới tên Trường QGNLM Blao.

Vào năm 1958, sau khi  Thị xă Blao đổi tên thành  Bảo Lộc, Trường QGNLM Blao  có tên QGNLM Bảo Lộc. 

Theo tài liệu [7] : Khi trường QGNLM Blao mới  được thành lập , giáo sư  Bác sĩ Thú Y Đặng Quan Điện cùng giáo sư, Bác sĩ Thú Y Vũ Ngọc Tân, giáo sư Lê Văn Kư và giáo sư Bùi Huy Thục là “tứ trụ” xây dựng trường lớp, cư xá, thư viện, giảng đường, nông trại…. cho  trường này.  

Theo nghị định thành lập 112 BCN/NĐ, Trường  là một trường Cao Đẳng cho các ngành canh nông, thủy lâm và mục súc và gồm có:

·        Cấp Trung Đẳng  khởi sự từ năm 1955  ,đào tạo Kiểm Sự dành cho học sinh có  văn bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp hoặc học lực tương đương ;

·        Cấp Cao Đẳng  từ năm 1959 với học tŕnh 3 năm, nhưng kể từ 1963 và Khóa 5 về sau khóa học trở nên 4 năm; nhằm đào tạo cấp bậc Kỹ Sư dành cho học sinh có  văn bằng Tú Tài 2 và hoặc đă học xong Trung đẳng.

·        Và những lớp theo mùa, không học kỳ và hạn định.

 

Theo tài liệu [5] : Trong thời gian từ năm 1955 đến 1963, trường QGNLM Blao đào tạo 8 khóa kiểm sự và 4 khóa cao đẳng đă cung cấp được gần 300 chuyên viên cho miền Nam Việt Nam.

Ngày ấy các môn học, dù là giáo sư người Việt vẫn sử dụng tiếng Pháp để giảng dạy, mục đích luyện tập cho sinh viên kỹ năng nghe nói để có thể thể tiếp cận với văn minh thế giới. Hầu hết các giáo sư đều xuất thân từ các trường đại học danh tiếng của Pháp. Ngoài ra, c̣n có một giáo sư người Đức Hoeninger dạy Lâm học, và một giáo sư người  Hoa Kỳ tên Stevenson, dạy Kinh tế. Các giáo sư tuy giảng dạy tại trường, nhưng cũng làm chuyên môn của ḿnh. V́ vậy các thầy cô không những am tường công việc mà c̣n rất nghiêm khắc trong việc đào tạo nguồn nhân lực phẩm chất (qualité)  cao.

Khóa 1 cấp Trung Đẳng khai giảng ngày 12 tháng 12 năm 1955 trong một buổi lễ long trọng.  Sau 3 năm học tập, Khóa 1 tốt nghiệp năm 1958 với 63 sinh viên được cấp văn bằng kiểm sự 3 ngành Canh Nông, Thủy Lâm và Mục Súc.  Trường QGNLM Blao  đào tạo được 8 khóa Trung Đẳng với gần 600 chuyên viên các ngành nông, lâm và súc.
Khóa Cao Đẳng đầu tiên của Trường QGNLM Blao khai giảng trong niên học 1959 và đă bế giảng vào ngày thứ bảy tuần lễ đầu tiên tháng 11 năm 1962  (tài liệu
[3]) .

 

Theo tài liệu [1]  :  Sau đó, trong ṿng dưới 20 năm, Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao (Bảo Lộc ) đă được cải tổ nhiều lần : 

1- Cải tổ lần thứ nhứt : Nghị Định số 286 BCN/NĐ/HC ngày 06 tháng 8 năm 1959 ấn định tổ chức cấp Cao Đẳng với học kỳ 3 năm và gồm 3 ban Nông Khoa, Lâm Khoa và Súc Khoa.

 

Từ trái qua phải : Bác sĩ Vũ Ngọc Tân (người thứ 3) - Giám đốc Trường QG Nông Lâm Mục BLao (1955-1958) và giám đốc  Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Sàig̣n (1967-1968); Giáo sư   Bùi Huy Thục (người thứ 4) - Giám đốc  Trung tâm QG Nông nghiệp (1968-1970); Giáo sư Đặng Quan Điện (người thứ 5) - Giám đốc Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Sài G̣n (1962-1964) (Ảnh chụp năm 1962, năm tốt nghiệp khóa 1 QG Nông Lâm Mục BLao (1959-1962) - H́nh trích từ tài liệu  [1] 

Theo tài liệu [5] :  Giáo sư, Bác sĩ Vũ Ngọc Tân là vị giám đốc đầu tiên của trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao. Ông tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Thú Y Alfort (Pháp). Sinh viên Tân học giỏi và có trách nhiệm với công việc nên được Giáo sư Patron của Trường thương yêu đến nỗi gả con gái cưng cho ông dẫn về nước. Từ những ngày chọn đất, san lấp mặt bằng đặt viên đá đầu tiên đến khai giảng, thầy Tân vừa là nhân chứng vừa là người trong cuộc, ông đă dành cả tuổi xuân của ḿnh để h́nh thành ngôi trường giữa chốn rừng già. 

Từ ngày đảm trách nhiệm vụ Giám đốc  Trường năm 1955, rồi nhận chức vụ cao hơn cho đến lúc già yếu, ông vẫn gắn bó từ xa với Trường. Thầy mất tại Sàig̣n tháng 5 năm 1981.

Ông Dư Thành Nghiệp, một học sinh cũ 80 tuổi của thầy đă viết: “Thầy Tân là người gây ấn tượng rất lớn đối với cuộc đời tôi. Đối với thầy việc giảng dạy, không nhất thiết chỉ trên giảng đường. Nhiều khi chúng tôi ngồi cạnh trại heo, trại ḅ h́ hục ghi chép, thầy bảo: “Các anh chị không cần ghi hết những lời tôi nói mà phải chú ư các sự kiện, nắm vững cốt lơi vấn đề, ghi lại những điều trọng yếu. Sau giờ học, tự soạn lại sườn bài. Như vậy dễ nhớ và dễ thực hành". Nghe lời thầy, tôi áp dụng thử, lúc soạn lại bài có cực hơn đôi chút, nhưng rất dễ nhớ. Khi đi thi, sinh viên nào viết dài ḍng th́ điểm kém, c̣n người nào chỉ viết 5, 10 câu nhưng giải quyết được sự kiện đúng chủ đề th́ điểm rất cao . 

Ông Dư kể về người vợ Pháp của Thầy (con của giáo sư Patron): “Số là hồi trước tôi theo học chương tŕnh Pháp tại trường Pétrus Kư, nên khi thi vấn đáp rất sợ giám khảo người Pháp. Hôm ấy thi môn sử địa, gặp bà đầm làm giám khảo, bà hơi gầy, mặt nghiêm khắc làm tôi run quá, cứ lấp ló bên ngoài. Một lát sau, bà ra trước cửa đứng chống nạnh nói bằng tiếng Việt giọng Bắc: "C̣n anh chị nào chưa thi th́ vào pḥng thi đi chứ" làm tôi ngạc nhiên đến bất ngờ. 

Khi vào thi gặp đề không khó mấy, nhưng bị khớp nên trả lời c̣n ngập ngừng. Thấy vậy bà gợi ư giúp cho môn thi của tôi qua. Lúc lên trường B’Lao được gặp lại bà, đó là phu nhân giáo sư Tân. Trong thời gian ở trường, dù không có nhiệm vụ, bà cũng chăm lo cho sinh viên, nhất là môn thực hành ngoài trang trại, khi có sinh viên bị ốm ngất xỉu, bà mang túi y tế ra tận hiện trường để săn sóc tận t́nh như một người mẹ”.

 

2- Cải tổ lần thứ hai : Nghị định 1361/BCTNT/NĐ/HC-2 ngày 26 tháng 3 năm 1962 của Bộ Cải Tiến Nông Thôn đă chuyển giao nhiệm vụ và cơ sở Học Vụ Kỹ Thuật Canh Nông và các trường trực thuộc về Bộ Quốc gia Giáo Dục (tài liệu [1], [2] , [3] ) .

 

3- Cải tổ lần thứ ba :  Năm 1963, Nghị Định số 1184 GD/HC (  1184/GD/TC theo tài liệu [1] [2] ) đổi tên cấp Cao Đẳng Trường QGNLM Blao ra Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (CĐNLS)  với học kỳ 4 năm.

Cũng  xin ghi thêm là do bởi  Nghị Định số 1184/GD/TC năm 1963 , cấp Trung Đẳng của Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc được đổi  thành trường Trung học Nông Lâm Súc  Bảo Lộc.  Theo tài liệu [5] : Giáo sư, Bác sĩ Thú Y Đặng Quan Điện,nguyên Giám đốc Nha Học Vụ Nông Lâm Súc là người đổi tên trường quốc gia Nông Lâm Mục B’Lao thành trường Trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc . Xem thêm chi tiết về cơ sở của Trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc trong Phụ đề 1 . 

Theo tài liệu [2] : Giáo sư Bác sĩ Thú Y  Đặng Quan Điện là người đă khai sinh ra ngành giáo dục trung học Nông Lâm Súc (THNLS) kể từ năm 1963, từ đó các trường THNLS trực thuộc Nha Học Vụ Nông Lâm Súc, Bộ Giáo Dục.

Theo tài liệu [5] : Sau khi đào tạo được 5 khóa cao đẳng tại Bảo Lộc, v́ lư do an ninh, Trường  Cao Đẳng Nông Lâm Súc Bảo Lộc được dời về Sàig̣n tại địa điểm đường Cường Để-quấn -Sài g̣n  và đổi tên thành Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Sàig̣n và do một Giám đốc điều khiển, trực thuộc Nha Học vụ Nông Lâm Súc.

Cũng theo nghị định này, kể từ niên học 1963-1964 thời hạn học tại Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc  Sàig̣n được ấn định là 4 năm. Thi sinh phải có bằng Tú Tài 2 ban A, B và phài qua kỳ thi tuyển  (tài liệu  [3] ) .

Theo tài liệu [7] : Giáo sư, Bác sĩ Thú Y Đặng Quan Điện làm giám đốc trường Cao Đẳng  Nông Lâm Súc  Sàig̣n  từ 1962-1964 (1963? – 1964) . Giáo sư đă chủ tŕ soạn kế hoạch và chương tŕnh đào tạo kỹ sư  ngành Canh Nông, Thủy Lâm và Súc khoa.

Giáo sư  Đặng Quan Điện giảng dạy các môn đào tạo kỹ sư TYCN (Thủy Lâm Canh Nông?)  như Khí Hậu và Khí Tượng NN (Ngư Nghiệp) , Kinh Tế Chăn Nuôi (1955-1963), Chăn Nuôi Đại Cương, Dinh Dưỡng và Thức Ăn Gia Súc, Dục Chủng Gia Súc (1963-1975), Chính Sách và Luật Lệ Chăn Nuôi (1973-1975) .

Ngoài ra,từ  tháng 01/1974  đến tháng  4/1975 , giáo sư  Đặng Quan Điện  làm phó Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức, Sàig̣n .

 

Giáo sư, Bác sĩ Thú Y Đặng Quan Điện – H́nh trích từ tài liệu [7] 

Đoạn văn dưới đây trích từ  tài liệu  [1]  viết bởi một cựu sinh viên Khóa 5 trường Cao Đẳng cho thấy những điều kiện ăn học  của sinh viên trong những năm đầu ở  trường Cao Đẳng  Nông Lâm Súc Sài g̣n :

‘’ Mới hôm nào chúng tôi phải trải qua cuộc thi tuyển khó khăn để được chọn vào học với tỉ số 100 trên khoảng hơn 3.000 thí sinh tham dự.

Đến Khóa 5 (năm 1963 ) chúng tôi cũng c̣n nhiều giáo sư  Pháp dạy học, như Ông Pouriquet dạy về Thảo mộc bệnh học, Ông De Polinaire dạy về cây cao su, giáo sư  Lamy dạy Cơ thể học (Anatomy), giáo sư  Maurand dạy Thủy Lâm, giáo sư   Perpezat, nhiều giáo sư  Roth ... Do đó, từ năm 1961, Cấp Cao Đẳng được di chuyển từ Blao về ở tạm tại Nha Học Vụ Kỹ Thuật và Thực Hành Canh Nông  nhưng các lớp học được dạy ở nhiều địa điểm: Đại Học Khoa Học, Trường Dược Khoa, Viện Pasteur, Thảo Cầm Viên, Viện Khảo Cứu Nông Nghiệp, Viện Vi Trùng và Bệnh Lư Gia Súc, v.v.

Khóa 5 của Trường Cao Đẳng NLS lúc ban đầu gồm có 50 sinh viên ban Nông Khoa, 30 ban Súc Khoa và 20 ban Lâm Khoa;Họ đến từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Miền Đông và Miền Trung Việt Nam.

Khóa học khai giảng từ đầu mùa thu 1963 đến giữa hè 1967 tại Sàig̣n, với cơ sở trường lớp chưa được hoàn toàn ổn định. Đến khi măn khóa, do thời cuộc chiến tranh, một ít sinh viên rời Trường sớm hoặc ở lại lớp nên chỉ có 85 người ra trường.  
Năm học đầu tiên đă tạo nhiều ấn tượng trong trí nhớ chúng tôi. Vào ngày khai giảng, chúng tôi đến trường với tinh thần rất phấn khởi để bắt đầu năm học đầu tiên của khóa 5, niên học 1963-1964  nhưng rất ngỡ ngàng khi nh́n thấy mái trường chỉ là một ngôi biệt thự lớn có 2 tầng lầu và một dăy nhà trệt bên cạnh nằm trên đường Mạc Đỉnh Chi, Quận 1-Sài g̣n. Đó là Nha Học Vụ Kỹ Thuật và Thực Hành Canh Nông mà Bác Sĩ Đặng Quan Điện (mất 2008) làm Giám Đốc Nha kiêm nhiệm Giám Đốc Trường Cao Đẳng.
 Sau năm học thứ nhứt của Khóa 5, Trường được chuyển đến Thành Cộng Ḥa cũ rộng hai mẫu, số 45 đại lộ Cường Để ở trung tâm Sài g̣n. Nơi đây có trường ốc 3 tầng lầu khang trang hơn, với văn pḥng hành chánh, các lớp học rộng răi, và có một khoảng không gian sân trường rộng lớn . Trường c̣n có Cư Xá dành cho sinh viên ở các tỉnh xa, Hợp Tác Xă Sinh Viên, và Quán Cơm Trưa Xă Hội Sinh Viên rộng răi.

Trong khu Thành Cộng Ḥa, c̣n có sự hiện diện của Đại Học Dược Khoa và Đại Học Văn Khoa, nằm đối diện với Trường Cao Đẳng NLS Sàig̣n. (Xem thêm chi tiết về  Thành Cộng Ḥa trong Phụ đề 2 ).

Khóa 5 chúng tôi có bốn điểm nổi bật là :

(i)     Cấp Cao Đẳng Nông Lâm Mục tách ra khỏi Trường Blao và đổi tên Trường Cao Đẳng NLS Sàig̣n (24-8-1963);

(ii)   Chương tŕnh học bắt đầu dạy bằng tiếng Việt, mặc dù c̣n ít môn học bằng tiếng Pháp v́ thiếu giáo sư ;

(iii)  Có học tŕnh 4 năm đầu tiên (chỉ số lương 470), thay v́ học 3 năm (chỉ số lương 430);

(iv)  Và học nguyên năm đầu tiên tại Đại Học Khoa Học, Ban SPCN (Sciences,physiques, chimiques et naturelles) có lẽ để tránh học nhiều nơi như các khóa trước trong khi chờ đợi cơ sở trường mới.

Năm học thứ nhứt, phần lớn thời gian chúng tôi theo học lớp SPCN tại trường Đại Học Khoa Học (đường Cộng Ḥa, quận 5-Sàig̣n ) . Ngoài ra, c̣n học thêm lớp Anh ngữ và vài môn học nông nghiệp đại cương tại Nha Học Vụ NLS. Đây là một ưu thế của khóa học 4 năm đầu tiên của Trường Cao Đẳng NLS Sàig̣n, v́ lớp học SPCN đă cho sinh viên chúng tôi một số căn bản khoa học vững chắc, hỗ trợ rất nhiều cho các môn học chuyên ngành sau này và sau khi ra trường. Lớp học này có độ 400 sinh viên, gồm có 100 sinh viên NLS, và một số giáo sư nổi tiếng như Phạm Hoàng Hộ (Thảo mộc học - Botany) , Bà Trần Ngọc Tiếng (nhũ danh Dương Thị Mai)  (Sinh lư thực vật), Chung Ngọc Tú (Vật lư), Chu Phạm Ngọc Sơn (Hóa học), Phạm Ngọc Thạch  (Địa chất) (Trần Kim Thạch th́ đúng hơn ? )… Chúng tôi được cấp học bổng toàn phần 1.500 $ đồng/tháng và bán phần 750$ đồng/tháng .

(Phụ chú : 

·        Các giáo sư kể trên là  các vị  giáo sư nổi tiếng giảng dạy tại Phân khoa Khoa Học-Đại học Sài g̣n. Xem thêm chi tiết về Phân khoa Khoa Học trong bài  Viện Đại Học Sài g̣n và các Phân khoa trực thuộc trước năm 1975 của cùng tác giả) .

·        Theo tài liệu [8]  : Số tiền học bổng mà sinh viên Đại Học Sư Phạm - Viện Đại Học Sài g̣n lảnh  từ khoảng năm 1960/1961 là 1.500 $ đồng/tháng và và đến năm 1970 là 3.000 $ đồng/tháng . Như thế, sinh viên trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sàig̣n và  sinh viên Đại Học Sư Phạm lảnh số tiền  học gần giống nhau . Các số tiền học bổng cấp này rất là hậu hỉnh bởi v́ theo tài liệu  [9] , vào khoảng năm 1965, một công chức chính ngạch hạng A mới tốt nghiệp đại học, lương căn bản khoảng 6.700 đồng).

 

Sau 4 năm trên ghế nhà trường, thu nhận một số kiến thức nghề nghiệp căn bản, chúng tôi cảm thấy ḷng phơi phới cùng gia đ́nh, bạn bè đến hội trường của công ty Sổ Số Kiến Thiết Quốc Gia trên đại lộ Thống Nhứt, đối diện Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài G̣n (NLS) để dự lễ tốt nghiệp và nhận bằng cấp măn khóa cùng với 84 bạn đồng môn khác. Lúc đó, trong bộ áo mũ măn khóa, chúng tôi xây dựng nhiều giấc mơ lớn trong ḷng cho những ngày tháng sắp tới... Bây giờ, đă có lắm kẻ gác kiếm an hưởng tuổi điền viên, một số ít c̣n vài năm làm việc và ít người ra đi không c̣n nữa. Quay nh́n lại chặng đường đă qua, vài kỷ niệm về mái trường NLS thân yêu của ḿnh lại xuất hiện’’.


 4- Cải tổ lần thứ tư :  Theo nghị định 483/GD ngày 23 tháng 3 năm 1967, Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc trực thuộc Bộ  Giáo Dục. (tài liệu  
[3 ). 

 

5- Cải tổ lần thứ năm : Theo sắc lệnh 158/SL/VHGD/TN ngày 09 tháng 11 năm 1968,trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài G̣n được đổi tên thành Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp trực thuộc Bộ Văn Hoá Giáo Dục và Thanh Niên

Trung Tâm này (1968-72)  do một giám đốc điều khiển, có một phó giám đốc phụ tá , gồm có ba trường: Cao Đẳng Nông Nghiệp, Cao Đẳng Thú Y và Chăn Nuôi, và Cao Đẳng Thuỷ Lâm.  Mỗi trường do một giám đốc điều khiền (Tài  liệu [1]  và [4] ) .

 

6- Cải tổ lần thứ sáu : Năm 1972, Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp đổi tên là Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp do Sắc Lệnh số 174 SL/GD ngày 29 tháng 11 năm 1972. Học Viện với 3 ngành nêu trên: trường Cao Đẳng Nông Nghiệp, Cao Đẳng Thú Y và Cao Đẳng Thủy Lâm , có nhiệm vụ huấn luyện, đào tạo và tu nghiệp cho các chuyên viên và cán bộ nông nghiệp cấp kỹ sư và các cấp cao hơn, sưu tầm, nghiên cứu, phát minh, phổ biến các kiến thức, kỹ thuật sản xuất và góp phần thiết lập các dự án nhằm phát triển các lănh vực nông nghiệp (tài liệu [1] và [3] ) .

 

7- Cải tổ lần thứ bảy :

Năm 1974, Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp được xáp nhập vào Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức với tên mới là Đại Học Nông Nghiệp do Sắc Lệnh số 10 SL/VHGDTN ngày 11 tháng 01 năm 1974.

Mặt khác theo tài liệu [3]  :  Theo sắc lệnh 010-SL-VH-GDTN ngày 11 tháng 01 năm  1975 (1974  th́ đúng hơn ?), Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972–1974), Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật và Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật được sát nhập vào Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức.

Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp được đổi tên  thành trường Đại học Nông Nghiệp-Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức năm 1974 gồm 5 ngành: Nông khoa, Lâm khoa, Súc khoa, Ngư nghiệp và Kỹ thuật nông nghiệp.

 

Sau năm 1975, Đại Học Nông Nghiệp bị ngụy quyền cộng sản đổi tên Đại Học Nông Nghiệp IV, rồi Đại Học Nông Lâm Thành Phố HCM (Sic) thuộc Bộ Giáo Dục và Đào Tạo.


Theo tài liệu
[4] : Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục QGNLM (Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc  Bảo Lộc + Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp + Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp  + Đại Học Nông Nghiệp Sàig̣n) đào tạo được tổng cộng 16 khóa cao đẳng với trên dưới 2000 kỹ sư các ngành nông, lâm và súc. Khóa 16 nhập học năm 1974 và tốt nghiệp năm 1980.

 

 

Một số sinh viên chuẩn bị đi thực tập 1966 - H́nh trích từ tài liệu [3] 

Chứng chỉ tốt nghiệp Kỹ Sư Nông Khoa-trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc 1969 - H́nh trích từ tài liệu [3] 

 

 Chứng chỉ tốt nghiệp bằng Kỹ Sư Súc Khoa -trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc 1969 - H́nh trích từ tài liệu [3] 

 

Chứng chỉ tốt nghiệp Kỷ Sư Thủy Lâm-Hoc viện Quốc Gia Nông Nghiệp 1974 - H́nh trích từ tài liệu [3] 

Phụ đề 1 : Cơ sở của trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc

Theo tài  liệu [4] :  Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục ( QGNLM) được thành lập ngày 19 tháng 11 năm 1955 do Nghị Định số 112-BCN/NĐ của Bộ Canh Nông . Trường QGNLM nguyên thủy được biết dưới tên Trường QGNLM Blao. Năm 1958, khi Thị xă Blao đổi tên là Bảo Lộc, Trường mới có tên Bảo Lộc.

Trường tọa lạc trên một thửa đất ph́ nhiêu ước lượng khoảng 500 mẩu, trên quốc lộ 20, phía Tây Thị xă Bảo Lộc .

Do bởi  Nghị Định số 1184/GD/TC năm 1963 , cấp Trung đẳng của Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc được đổi  thành trường Trung học Nông Lâm Súc  Bảo Lộc.

Trường tiếp tục đào tạo chuyên viên cấp trung đẳng từ năm 1963 cho đến năm 1975.

Theo tài  liệu [2] và [6] : Trường  được đặt tại vị trí của Trung Tâm Thực Nghiệm Nông Học rộng khoảng 1.000 mẫu. Trung Tâm này được thành lập  tại làng Công Hinh từ năm 1930 bởi Nha Khảo Cứu Đông Dương  để nghiên cứu, thử nghiệm cây trồng, vật nuôi cho cả nước.  

Theo tài liệu [5] : Vào thời điểm đó, tại vùng hạ B’Lao vẫn c̣n là rừng nguyên sinh. Sáng sớm và chiều tà, sương mù phủ lên trắng xóa ôm cả cánh rừng hoang. Diện tích trường tính các khu trà, cà phê, vườn cỏ, vườn ươm, rừng sưu tập và khu công sở rộng đến 200 mẫu. Nhưng nếu tính cả khu rừng để sinh viên thực tập th́ tổng diện tích gần 600 mẫu.

 

(Phụ chú : Diện tích 500  mẩu hay 1000 mẫu hay 200 mẫu hay 600 mẫu cần phải xác định lại ) .

 

Trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc - H́nh trích từ tài liệu [4] 

 

Việc chọn Blao như là một trung tâm giáo dục chính về nông nghiệp có điểm bất thuận là Blao cách xa Sàig̣n 184 cây số, nhưng điểm bất thuận trên đă được đền bù lại bằng nhiều điểm thuận lợi như là khí hậu thích hợp cho việc lao động và học tập, có sẳn một diện tích khá rộng thuận lợi nhiều cho việc mở rộng không giới hạn, một vùng đất có nhiều tiềm năng cho cả 3 môn học : trồng trọt, chăn nuôi, và lâm nghiệp ứng dụng đồng đều và hoà hợp .

Việc xây dựng trường :

Toàn thể nhà cửa chiếm trọn vùng đất của địa điểm nghiên cứu nông nghiệp cũ đă bị bỏ hoang và tràn ngập những bụi rậm có nhiều rắn và hổ và để có thể tiến hành tốt việc xây cất trường, người ta đă phải vượt qua  nhiều khó khăn trở ngại và san bằng mọi vật chướng ngại đủ các loại.

Giải quyết lao động là một vấn đề tiên quyết, nhưng may thay làn sóng người di cư đổ về đây giúp việc giải quyết thỏa đáng vấn đề trên. Dể hiểu thôi, nhà cửa lúc ban đầu chỉ toàn bằng gỗ. Tại Blao lúc đó chưa có nước chảy và điện lực.
Đến năm 1956, kinh phí cho việc xây cất nhà cửa bằng gạch đă được duyệt, nhưng trường c̣n phải chờ đến đầu năm 1957 mới có thể xây dựng những công tŕnh xây dựng lớn.

Và đầu năm 1958, đă có ba dăy nhà giảng dạy gồm 8 pḥng, 1 dăy nhà hành chánh, 17 nhà cho giáo sư, 4 pḥng ngủ gồm 90 giường, 1 nhà bếp lớn, 1 tháp nước chảy có dung tích 630 thước khối với kinh phí  tổng cộng là 20 triệu đồng (giá trị vào thập niên 1960). Nước và điện đă được lấp đặt và c̣n được cung cấp một số lớn trang thiết bị làm ruộng gồm có 6 máy kéo, 4 máy xới …

Theo tài liệu [5] : Trường có nhà máy phát điện, máy nước, sân vận động, đài khí tượng, vơ đường. Trong khuôn viên trường có đại thính đường, kư túc xá sinh viên, thấp thoáng trong các cây sao, cây muồng, là những biệt thự xinh xắn dành cho giáo sư. 

Sau cùng, từ năm 1958 trở đi trường tiếp nhận thêm những trang thiết bị khoa học dành cho pḥng thí nghiệm và thực hành ngoài đồng, những dụng cụ nghe nh́n và nhiều loại sách mới (3000 quyển) .

Ngoài ra trường c̣n kiểm soát và bảo tŕ 10 mẫu (?) đường ṃn rừng và 30 mẫu  đồng cỏ chăn nuôi, 20 mẫu  cỏ thảm và vườn ươm 2 mẫu , vườn rau 2 mẫu. vườn cây ăn quả 2 mẫu , vườn trà 6 mẫu , cà phê 1 mẫu  và đám súc vật gồm có ngựa 6 con, ḅ sữa 15 con, heo, gà vịt và thỏ.

Những người phục vụ cho trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc, như thầy cô giáo và nhân viên từ năm 1963 đến 1975 được viết rất đầy đủ và thú vị trong tài liệu [10] .

Hội quán NLS ,nơi học sinh hay ra ăn uống tâm sự vui vẻ trong những giờ ra chơi,thực hành nông trại…- H́nh trích từ tài liệu [11] 

Dăy trường mặt trước,nơi đây có đặt cái kẻng thân quen đánh khi giờ ra chơi,tan trường...- H́nh trích từ tài liệu [11] 

 



Phía sau trường,ngày ấy có khu nông trại và một sân banh - H́nh trích từ tài liệu [11] 

 

Phụ đề 2 : Sau đây là vài hàng sơ lược về Thành Cộng Ḥa

Theo tài  liệu [12] :  Năm 1835, sau khi dẹp xong loạn Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng hạ lệnh phá hủy toàn bộ thành Phiên An (Quy Thành của  vua Gia Long xây cất năm 1790). Năm sau, 1836,  vua Minh Mạng cho xây một thành khác nhỏ hơn phía đông bắc thành cũ, gọi là "Thành Phụng",  tức thành Gia Định.

Ngày 17 tháng 2 năm 1859, quân Pháp đă mở các cuộc  tấn công Thành Phụng. Sau khi lấy được Thành Phụng, Pháp gọi  Thành này  là ‘’Citadelle de Saigon’’. (Xem thêm chi tiết trong hai bài  Nghĩa địa ở Sàig̣n - Gia Định trước năm 1975- Ancien Cimetière và Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (Cimetière Européen của cùng tác giả).

Sau khi triệt hạ thành “Citadelle de Saigon”, binh lính Pháp dùng sắt và vôi gạch xây thành lính “Sơn đá” của họ, tục danh “Thành 11è R.I.C” (Caserne du Onzième Régiment de l’Infanterie Coloniale - Trại Bộ Binh Thuộc địa đội thứ 11.Trại này nằm  gần đúng vị trí Citadelle de Saigon. (Thành này xây xong năm 1873 có tên là Martin des Pallières,tên một tướng Pháp).

Theo tài  liệu [13] : Doanh trại quân sự này được Pháp cho xây kiên cố bằng bê-tông cốt thép từ năm 1870 theo phong cách kiến trúc pháo đài pḥng thủ.

Caserne du Onzième Régiment de l’Infanterie Coloniale năm 1911

Theo tài  liệu [14] :  Sang thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, Thành 11è R.I.C  được đổi thành “Thành Cộng Ḥa”, do Lữ đoàn pḥng vệ tổng thống phủ trấn giữ. Sau cuộc đảo chính ngày 1/11/1963, Thành Cộng Ḥa th́ bị dẹp bỏ.

Thành Cộng Ḥa năm 1963

Thành Cộng Ḥa năm 1964-H́nh George Maccianti

Sau đó ,khu vực thành Cộng Ḥa được giao cho Bộ Giáo Dục để thiết lập một khu Đại học (mà sau này là  Đại học Văn Khoa và Dược Khoa). Trên khu vực này, về sau c̣n thành lập thêm cơ sở của Cao đẳng Nông Lâm Súc và Đài truyền h́nh. Một con đường được mở xuyên qua thành Cộng Ḥa cũ, nối thông đường Đinh Tiên Hoàng và đại lộ Cường Để (tài liệu [15] ).

 

Khu vực góc đường Cường Để và đại lộ Thống Nhất, gồm 2 trường thuộc   viện đại học Sàig̣n : Văn Khoa và Dược Khoa và  trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc trước năm 1975-Photo : gettyimages- H́nh trích từ tài liệu [16]

Đại học  Văn khoa và Đại học Dược nằm đối diện nhau ở ngă tư Cường Để - Thống Nhất.  Kế cận trường Dược là trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc gồm cả hai tòa nhà bị cắt ngang bởi đường Đinh Tiên Hoàng. Xem thêm chi tiết  về Đại học  Văn khoa và Đại học Dược khoa trong bài  Viện Đại Học Sài g̣n và các Phân khoa trực thuộc trước năm 1975 của cùng tác giả) .

Tài liệu tham khảo :

1.     https://nonglamsuctayninh.com/hinh-anh/347-nhung-thang-ngay-voi-truong-cd-nong-lam-suc-sai-gon.html  Những  Tháng Ngày với Trường CĐ Nông Lâm Súc Sàig̣n - Viết bởi Trần Văn Đạt -07/06/ 2011.

2.     file:///C:/Users/tuymai/Documents/Tuy%20Documents/Cao%20Dang-TAI%20LIEU/LHTVu_LS_TruongNongLamSuc.pdf Về hệ thống giáo dục Nông Lâm Súc và trường Trung học Nông Lâm Súc Pleiku - PK: Lê Hoàng Thụy Vũ .

3.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975 - Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp .

4.     https://nonglamsuctayninh.com/hinh-anh/335-lich-su-truong-quoc-gia-nong-lam-muc.html Lịch sử Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục .

5.     https://cand.com.vn/Phong-su-Tieu-diem/Rung-rung-ve-tham-lai-ngoi-truong-600-mau-i351947/ Rưng rưng về thăm lại ngôi trường 600 mẫu - 21/05/2015.

6.     https://nonglamsuctayninh.com/hinh-anh/298-cai-huy-hieu.html Cái Huy Hiệu-Tháng 3 2011- Viết bởi Bùi Tho .

7.     https://nls.hcmuaf.edu.vn/contents.php?ids=23985&ur=nls&lng= Thầy Đặng Quan Điện – Nhà Giáo Dục Nông Nghiệp Miền Nam .

8.     https://daihocsuphamsaigon.org/index.php/vainetvetruong Cựu sinh viên ĐHSP Sàig̣n-Vài nét về trường ĐHSP Sàig̣n-Phạm Thị Nhung, ban Việt Hán - ĐHSPSG, khóa 1958-1961 bổ túc.

9.     Tieng Dan- Đôi điều về lương bổng, phụ cấp của quân nhân-công chức miền Nam trước tháng 4.1975 (Phần 1)-Bởi  AdminTD-Lê Nguyễn 27/10/2022.

10.  https://nlsbaoloc.info/index.php/c-san-nlsbl-2008-mainmenu-129/truyn-ngn-mainmenu-165/972-hi-tng-v-nhan-vien-trng-nong-lam-suc-bo-lc-1963-1975-trng-t Hồi Tưởng Về Nhân Viên Trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc (1963-1975) - Trường Từ - Trích Đặc San 2008 .

11.  https://nonglamsuctayninh.com/hinh-anh/218-mot-so-hinh-anh-truong-xua.html Một số h́nh ảnh trường xưa 08 Tháng 2 2011.

12.  Vương Hồng Sển-Sài g̣n năm xưa-Sống Mới-1968.

13.  https://vnexpress.net/truong-dai-hoc-duoc-hinh-thanh-tu-thoi-phap-o-sai-gon-3636593.html VN Express-Trường đại học được h́nh thành từ thời Pháp ở Sài G̣n-15/12/2024-Mạnh Tùng .

14.  https://plo.vn/van-khoa-ngay-ay-bay-gio-post453252.html Văn khoa ngày ấy, bây giờ... Nguyên Kha.

15.  Bách khoa toàn thư-Thành Cộng Ḥa.

16.  https://www.gio-o.com/NgoBac/TrietVanHoaSaigon.htm Ngô Bắc-Theo học ban Triết tại Đại học Văn Khoa Sàig̣n trước năm 1975-Tản mạn.

 

06- Trường Cao Đẳng Hàng Hải  - Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n

Trường Hàng Hải  vào năm  1957    được đổi tên thành “Trường Việt Nam Hàng Hải ”  và  được sát nhập vào Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật - Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Ḥa.Trường nằm trong khuôn viên  của Trung Tâm này ở khu Phú Thọ , đường Nguyễn Văn Thoại và  đường Tô Hiến Thành,thuộc phường Nguyễn Tri  Phương,Quận 10-Sàig̣n.

Từ năm 1973, Trường Hàng Hải mới chính thức thuộc cấp Cao Đẳng.

Sau đây là lược sử thành lập Trường Cao Đẳng Hàng Hải theo tài liệu  [1,2] :

Theo tài liệu  [1] :  Tiền thân của trường Hàng Hải có danh xưng là École des Mécaniciens Asiatiques đưọc thành lập do nghị định ngày 20-2-1940 của Thống Đốc Nam Kỳ Rodier.

 Mặt khác theo tài liệu  [2] : Khoảng năm 1942, danh xưng đầu tiên của trường Hàng Hải là École des Mécaniciens Asiatiques được thành lập chiếu theo nghị định ngày 20-2-1940 của Thống Đốc Nam Kỳ Rodier.

Mục đích của trường nhằm đào tạo các Sĩ quan Hàng Hải gồm các Ban Chỉ huy (Section pont), Cơ khí (Section machine) và Vô tuyến (Section radio) để phục vụ trên các chiến hạm Pháp ở Đông Dương. Một ông Sĩ quan Hàng Hải có cả ba bằng gồm các ngành trên đó là niên trưởng Trần Văn Chơn cựu Đề Đốc Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa.

Có một số sinh viên cam kết sẽ phục vụ trong một thời gian qui định trên các chiến hạm Pháp hoặc trong các cơ sở thuộc Hải Quân Pháp như Ba Son, v…v… sau khi tốt nghiệp. Ngoài ra có nhiều người sẽ thành những kỹ thuật gia phục vụ trong các ngành kỹ nghệ, công nghệ và xí nghiệp Pháp tại Đông Dương.

Nghe nói anh Nguyễn Văn Hóa là một trong những sĩ quan đầu tiên của ngành Hàng Hải.Anh đi theo kháng chiến và ở ng̣ai Bắc cho đến năm 1975. Anh là một chiến sĩ tham gia trận đánh Sông Lô trong thời kháng chiến chống Pháp.Năm 1955, anh Hóa dẫn chiếc tàu đầu tiên vào cảng Hải Pḥng cách nay đă hơn 50 năm. Đến năm 1975, anh Hóa về day Trường huấn luyện về hàng hải cho các thủy thủ ở Sàig̣n. Anh hiện nay đă ngoài  90 tuổi.

Trường École des Mécaniciens Asiatiques lúc bấy giờ tọa lạc tại đường Đỗ Hữu Vị, khu Chợ Củ- Sàig̣n. Vị Giám Đốc sáng lập trường là Emmanuel Rosel, một Kỷ sư Công nghệ cũng là Đại úy Hải Quân Pháp. Có một lúc trường mang tên là École Rosel.

(Phụ chú : Theo tài liệu  [3] : Trường École des Mécaniciens Asiatiques  được thành lập vào tháng 2 năm 1906 bởi ông Emmanuel Rosel. Ngay sau đó , ông Rosel được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng đầu tiên của trường. (Sơ lược tiểu sử Rosel được tŕnh bày trong Phụ Đề 1). Trường này sang thời Việt Nam Cộng Ḥa trở thành  Trường trung học kỹ thuật  Cao Thắng, đường Đỗ Hữu Vị thành đường Huỳnh Thúc Kháng,quận 1 . Xem thêm chi tiết trong bài  Trường trung học ở Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975 -  Trường kỹ thuật  Cao Thắng của cùng tác giả).

Năm 1942, trong Đệ nhị Thế chiến, Nhựt Bổn chiếm đóng tất cả các trường học ở Sàig̣n làm trại lính, trường được dời vô Ba Son (thời Việt Nam Cộng Ḥa là Hải Quân Công Xưởng).

Các sinh viên được học trên hai chiếc tàu, một chiếc là Administrateur Royer dành cho học viên Ban Chỉ huy. Khóa này gồm có 8 học viên là các anh Phan Văn Dy, Từ Huy Hoàn, Lê Văn Tốt, Lê Bích Hà, v.v…

C̣n một chiếc tàu khác dùng vào việc huấn luyện các tài công (Patron de chaloupe).Lúc  bấy giờ anh Lê Văn Tỷ cựu Hoa tiêu Sông Cửu Long, dạy về Thủy thủ công (Matelotage).

Đến năm 1943, trường trở về tọa lạc trên đường Đỗ Hữu Vị, Chợ Củ- Saigon lấy tên là Collège Technique (Trường Kỹ Thuật hay nôm na là Trường máy) .

Theo niên trưởng Nguyễn Chánh Trực, cựu Hoa tiêu sông Sàig̣n, khóa Hàng Hải 1943-1944 gồm có các anh Nguyễn Chánh Trực, Trần Đức Lưu, Nguyễn Văn Liêm, Châu Văn Mùi, Cao Thái Phó, Reboul, v.v… Các niên trưởng xuất thân từ các khóa kể trên họp thành một thế hệ Sỉ quan Hàng Hải thương thuyền, thuyền trưởng và cơ khí trưởng lăo thành chỉ huy các con tàu đầu tiên, tiếp thu các đoàn hoa tiêu từ tay người Pháp và có mặt trên các thương cảng, bến nước từ  Bắc chí Nam.

Sau Đệ nhị Thế chiến, trường Kỷ Thuật Collège Technique họat động b́nh thường trở lại. Mỗi khóa đào tạo lối 20 Sỉ quan Ban Chỉ huy (Pont) và 20 Sỉ quan cơ khí (Machine).

 

Năm 1947 – 1948 :

Theo các niên trưởng Lâm Nguơn Tánh, cựu Đề Đốc Tư Lệnh Hải Quân, Niên trưởng Đỗ Bá Ngữ cựu Hoa tiêu Sông Sàig̣n, Trường vẫn có tên là Trường Kỹ thuật, tọa lạc ở đường Đổ Hữu Vị, khu Chợ Cũ- Sàig̣n.

Khóa 1947-1948 gồm có các anh Tôn Thọ Khương, Đ̣an Luyện, Nguyễn Văn Danh, Đào Quan Ngăi, Tôn Thất tuyên, Chung Tấn Cang, Trần Văn Chơn, Lâm Nguơn Tánh, Trần Văn Phấn, Lê Quang Mỹ, Hồ Đắc Tâm, Đỗ Bá Ngữ, Lê Xuân Long, Vơ Bá Nhu, Đ̣an Ngọc Bích, Nguyễn Văn Lịch, Nguyễn Hùng Trương, Nguyễn Văn Thiệu, v.v… Có tất cả 20 sinh viên ban Chỉ huy và 20 sinh viên ban Cơ khí.

Một số người tốt nghiệp khóa nầy (Chung Tấn Cang, Trần Văn Chơn, Lâm Nguơn Tánh), về sau trở thành các vị Tư Lệnh và  những sĩ quan cao cấp chỉ huy các lực lượng  trong Quân Chủng Hải Quân hoặc tiếp thu lại các Đoàn Hoa Tiêu từ những chuyên viên người Pháp. Đặc biệt là ông Nguyễn Văn Thiệu là một Tướng lănh của Quân đội và cũng là vị Tổng Thống của Đệ Nhị Cộng Ḥa Việt Nam.

 

 

Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu – Cựu Sinh Viên Trường VN Hàng Hải - H́nh trích từ tài liệu  [2] 

Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu

 

Năm 1948 – 1949 :

Theo niên trưởng Lương Quang Thọ cựu Hoa tiêu sông Sàig̣n, Trường Hàng Hải Việt Nam nằm trong khuôn viên trường Petrus Trương Vĩnh Kư.

Khoá này gồm có các anh Lương Quang Thọ, Chế Công Tá, Nguyễn Văn Nghiêm, Huỳnh Trịnh Tường, v.v… Tổng giám thị lúc bấy giờ là Ông Bùi Quang Khánh, giáo sư Thiên văn hàng hải là ông Patron, giáo sư Hải hành là ông Apex và giáo sư Luật hàng hải là ông Corbin.

 

Năm 1949-1950 :

Theo niên trưởng Ḥang Phước Qủa cựu Hoa tiêu Sông Sàig̣n, Trường Hàng Hải vẫn c̣n trong khuôn viên trường Petrus Kư. Khoá nầy gồm có các anh Hoàng Phước Quả, Tô Ngọc Tuấn, Huỳnh Minh Tuấn, Mai Hữu Lễ, Tôn Thất Ấn, Nguyễn Đôn Thỏa, Hồ Tấn Quyền cựu Tư Lênh Hải quân thời Đệ Nhất Cộng Ḥa.

(Phụ chú : Ông Hồ Tấn Quyền tốt nghiệp sĩ quan Thuyền trưởng Hàng Hải tháng 12 năm 1948, phục vụ ở ngành này cho đến khi gia nhập quân đội.Ông mang cấp bậc Đại tá Hải quân và là vị Tư lệnh thứ ba của Quân chủng Hải Quân từ tháng 8 năm 1959 cho đến khi bị sát hại vào ngày 1 tháng 11 năm 1963) .

Từ năm 1947 đến năm 1950, trường đă đào tạo một số lớn chuyên viên kỹ thuật ngành hàng hải được huấn luyện trên các thương thuyền Pháp. Họ học hỏi thu thập đủ kinh nghiệm về nghề nghiệp để gánh trách nhiệm chỉ huy các tàu buôn mang cờ Việt Nam Cộng Ḥa sau nầy.

 

Năm 1950-1951 :

Đến năm 1950, do nghị định 155-CAB/SG ngày 27-12-1948, trường Hàng Hải được giao lại cho chính phủ Việt Nam. Trường được chính thức thành lập với danh xưng “Việt Nam Hàng Hải Học Liệu”. (École de Navigation Maritime Vietnamienne).

Trong những năm 1950-1951,tuy nhiên không hiểu v́ lư do ǵ, trường được chuyển đến khu Hỏa xa Việt Nam, đường Colonel Grimaud tức Phạm Ngũ Lăo về sau.

Khóa 1950-1951 được gọi là khóa 1 Hàng Hải Việt Nam. Khóa nầy gồm có các anh Trương Văn Tây, Bữu Hạnh, Lưu Văn Quăng, Vơ Thành Tuấn, Phạm Bá Vân, Nguyễn Văn Thu, Đỗ Quư Hợp, Hà Văn Kim, Phùng Văn Đán, anh Tích, v.v…Bên cơ khí có anh Đặng Cần Chánh cựu Đại tá Hải quân.

 

Năm 1951-1952

Đây là khóa 2 Hàng Hải Việt Nam cũng  học nơi đây (khu Hỏa xa Việt Nam).

Trong nữa năm đầu, trường vẫn c̣n tọa lạc trong một căn pḥng của cơ sở Hỏa xa Việt Nam và trong nữa năm sau trường được chuyễn về địa điễm củ trong khuôn viên trường Petrus Trương Vĩnh Kư bên cạnh các trường Công Chánh, Vô Tuyến Điện, v.v… với danh xưng là Hàng Hải Học Liệu.

Trường Hàng Hải là một gian nhà bốn pḥng đâu lưng ra đường Thành Thái, cửa chính của gian nhà có để bảng Việt Nam Hàng Hải Học Liệu “École de Navigation Maritime Vietnamienne”.

Pḥng thứ nhất là pḥng Giám thị, pḥng thứ nh́ là pḥng học của Ban Chỉ huy, pḥng thứ ba là pḥng học của Ban Cơ kh́ và pḥng thứ tư dùng vào việc linh tinh.

Khóa 2 Hàng Hải gồm có các anh Phạm Ngọc Lũy, Tạ Cảnh Hi, Nguyễn Phong, Bùi Ngọc Hương, Nguyễn Nhơn Đức, Khương Hữu Bá, Lê Trung Hiếu, Nguyễn Đ́nh Quảng, Đinh Mạnh Hùng, Phùng Nhật Tân, Nguyễn Ngọc Trụ, Nguyễn Đ́nh Vượng, Ngô Khắc Luân, Nghiêm Văn Phú, Nguyễn Thành Châu, Trương Ngọc Lực, Nguyễn Năng Thông, Huỳnh Kim Gia, Nguyễn Hồng Báu, v.v…

(Phụ chú : Vài ḍng về ông Phạm Ngọc Lũy

Theo tài liệu  [4] : Được biết ngày 30/4/1975, Thuyền Trưởng Phạm Ngọc Lũy đă lèo lái con tàu Trường Xuân với gần 4,000 thuyền nhân ra khơi rồi sau đó được một chiếc tàu của Đan Mạch chở sang Hồng Kông trước khi con tàu Trường Xuân bị ch́m.

 

 

Cựu Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy năm 1975 - H́nh trích từ tài liệu [5] 

 

Theo tài liệu  [6]  : Ông là ân nhân của hàng ngàn người, qua đời  ngày 21 tháng 12 năm 2022 ở tiểu tiểu bang Virgina-Hoa Kỳ thọ 103 tuổi.

 

Phần đông các sinh viên tốt nghiệp khóa 2 gia nhập khóa 2, 3, 7 Hải quân. Có ba anh được thăng cấp Phó Đề Đốc c̣n đa số là sỉ quan cấp tá Chỉ huy trưởng các lực lượng của quân chủng Hải quân.

Trong khóa nầy ông Bùi Quang Khánh vừa là Tổng giám thị vừa là Giáo sư Kỹ nghệ họa cho ban Cơ khí. Ông Trần Văn Bạch vừa là Hiệu trưởng vừa là Giáo sư Tóan cho ban Chỉ huy. Giáo sư Patron dạy về Thiên văn Hàng hải (Astronomie nautique), Hải hành (Navigation), Hải đồ và Hải cụ (Cartes marines et instruments Nautiques). Kỷ sư Giraud dạy Kỹ thuật Hàng hải (Technologie navale). Giáo sư Moreuil dạy về Pḥng tai (Sécurité navale). Ông Blachère dạy về vận chuyển tàu buồm va thuỷ thủ công (Bateaux à voiles et Matelotage). Ông Corbin Giám đốc sở Đăng kư Hàng Hải (Administrateur de l’inscription maritime) dạy về luật Hàng Hải (Législation Maritime). Giáo sư Phương từ trường Petrus Kư biệt phái qua dạy Toán học, một Đại uư Y sĩ Hải quân dạy về Y tế Hàng hải (Hygiène Navale).

Theo tài liệu  [7] : Trường Việt Nam Hàng hải được thành lập năm 1951, chương tŕnh 8 tháng đào tạo thuyền viên hàng hải.

 

Năm 1952-1953 :

Khóa này  gọi là khóa 3 Hàng Hải gồm có các anh Nguyễn Văn Phước, Nguyễn Văn Liêm, Trần B́nh Sang, Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Văn Huấn, Lê Thanh Truyền, Vũ Đ́nh Đào, Lộ Công Dần, Diệp Quang Thủy, v.v… Cũng như khóa trước cũng có một số sinh viên tốt nghiệp khóa này gia nhập khóa 3 Hải quân.

Từ năm 1952 đến năm 1957, trường được dời về khuôn viên Trường Trung học Pétrus Trương Vĩnh Kư nằm dọc theo Đại lộ Thành Thái gần các trường Đại Học Sư Phạm, Công Chánh và Điện.

 

Theo tài liệu  [2] : Đến năm 1957, trường được sát nhập vào Khu Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ cùng các trường Cao Đẳng Điện Học, Công Nghệ, Hóa Học, Công Chánh, Thương Mại, v…v… tọa lạc trên đường Nguyễn Văn Thoại, đối diện với Cư Xá Lữ Gia ở Phú Thọ. Trường vẫn tiếp tục đào tạo Sĩ quan Hàng hải đến khóa 22.

Và do sắc lệnh số 213 GD ngày 26-9-1957, trường đă đổi danh hiệu là “Trường Việt Nam Hàng Hải” cho đến năm 1975.

Sáng Lập Viên và Giám Đốc Trường Việt Nam Hàng Hải do ông Trần Văn Bạch, Kỹ Sư Kiều Lộ sáng lập. Kỹ Sư Bạch là nguyên Tổng Trưởng Bộ Công Chánh và là Cựu Giám Đốc Trường Việt Nam Hàng Hải. (Xem thêm chi tiết trong Phụ đề 2) .

 

Trường Hàng Hải - Năm chưa xác định  - H́nh trích từ tài liệu  [1] 

 

Cổng trường Việt Nam Hàng Hải -  (cùng chung ṭa nhà với trường Kỹ Sư Công Nghệ) - Năm chưa xác định - H́nh trích từ tài liệu  [2] 

 

 

Cổng trường Việt Nam Hàng Hải (cùng chung ṭa nhà với trường Kỹ Sư Công Nghệ) -  Năm chưa xác định -  H́nh trích từ tài liệu  [8] 

 

 

 

Huy hiệu trường Việt Nam Hàng Hải -  H́nh trích từ tài liệu  [2,8] 

 

Sau đây là danh sách các vị đă từng giữ chức vụ Giám Đốc của trường Việt Nam Hàng Hải từ năm 1950 đến năm 1975 : Kỷ Sư Trần Văn Bạch, Ông Lê Hữu Kỳ , Ông Đặng Văn Châu, Viễn Dương Thuyền Trưởng Pháp, cựu Hoa Tiêu Sông Saigon, Ông Phùng Lương Ngọc, Viễn Dương Thuyền Trưởng Pháp, cựu Thuyền Trưởng tàu Việt Nam Thương Tín I, nguyên Giám Đốc Kỹ thuật Công ty Việt Nam Hàng Hải, Ông Nguyễn Tấn Quyền, Kỷ Sư Cao Đẳng Đại Học Grenoble, xử lư thường vụ Giám Đốc, Ông Đỗ Ngọc Oánh, Kỷ sư tốt nghiệp tại École des Ingénieurs Mécaniciens Pháp, Kỷ sư Hải Quân Thiếu Tá, xử lư thường vụ Giám Đốc và Ông Phạm văn Sanh, tốt nghiệp trường Hàng Hải Pháp (École Navale), Hải Quân Trung Tá, vị Giám Đốc sau cùng của trường.

 

Ông Phạm văn Sanh - Giám Đốc sau cùng của trường- H́nh trích từ tài liệu  [2] 

 

Mục tiêu thi tuyển Trường Việt Nam Hàng Hải đào tạo các sĩ quan:

1.     Ban Chỉ Huy (Pont);

2.     Thuyền Trưởng Cận Duyên (Capitaine au Petit Cabotage) ;

3.     Thuyền Trưởng Viễn Duyên (Capitaine au Grand Cabotage) .

Theo luật lệ hàng hải của Việt Nam Cộng Ḥa, các tàu bè được trang trí Cận Duyên hàng hải  chỉ được phép hải hành dọc bờ biển Việt Nam từ Cảng Sài g̣n đến Cảng Đà Nẳng về phía Bắc.

Các tàu trang trí Viễn Duyên hàng hải được phép hoạt động trong vùng biển giới hạn bởi Nhật Bản phiá Bắc, Phi Luật Tân phiá Đông, Nam Dương Quần Đảo phiá Nam và Ấn Độ phiá Tây, nghĩa là bao gồm một vùng tương đối rộng ở Đông Nam Á Châu.

Bắt đầu từ năm 1973, trường Việt Nam Hàng Hải được nâng cấp lên đào tạo :

1.     Các Viễn Dương Thuyền Trưởng (Capitaine au Long Cours) sẽ chỉ huy các con tàu đi khắp nơi trên thế giới ;

2.     Ban cơ Khí (Machine) + Sĩ Quan Cơ Khí Hạng Nh́ (Mécanicien 2ème classe) ;

3.     Sĩ Quan Cơ Khí Hạng Nhứt (Mécanicien 1ère classe) .

Về điều kiện dự thi tuyển vào trường, thí sinh phải có văn bằng Tú Tài 1 phổ thông (Ban B Toán  hay Kỹ Thuật trở lên.

Các môn thi áp dụng cho hai ban gồm có :

Chung cho cả hai ban :  Đại số và số học (hệ số 2) ,Sinh ngữ Pháp và Anh;

Riêng cho mỗi ban: Ban Chỉ Huy : H́nh học và Lượng giác học (hệ số 3) - Ban Cơ Khí : Vật Lư (hệ số 3).

 Trên thực tế, đa số thí sinh dự thi tuyển đều có bằng Tú Tài phần 2 ban B-Toán hay Kỹ Thuật-Toán trở lên , nhứt là theo học Ban Chỉ huy, sinh viên phải có kiến thức căn bản về Toán để học Lượng giác cầu (Trigonométrie Sphérique) hầu có thể giải đáp các bài toán Thiên Văn Hàng Hải (Calcul Nautique) để áp dụng về sau trong lúc chỉ huy một con tàu trên đại dương.

Theo tài liệu  [8] :Hàng năm thí sinh dự kỳ thi tuyển rất đông; như năm 1971, khoảng 1200 thí sinh cho ban Chỉ huy và 950 cho ban Cơ khí. Từ trước đến nay trường chọn mỗi ban khoảng 23 người trúng tuyển vào năm thứ nhất.

Thời gian thực tập: Sau hai năm học tập tại trường, các sinh viên tốt nghiệp được cấp chứng nhận đậu bằng Cận Duyên, Viễn Duyên (phần lư thuyết) hoặc Cơ Khí hạng 2, hạng 1 (phần lư thuyết) và sẽ xuống thực tập trên thương thuyền trong những chức vụ sau đây:

·        Ban Chỉ Huy (Section Pont): hai năm đầu với tính cách Học viên (E.O.P.-Élève Officier Pont). Thời gian trên có thể được linh động, uyển chuyển, có thể ngắn hoặc dài hơn tùy theo nhu cầu nghề nghiệp. Tiếp theo sẽ được bổ nhiệm làm Sĩ quan Phụ tá (Lieutenant). Sau đó có thể được lên chức Phó Thuyền trưởng (Second Capitaine) ;

·        Ban Cơ Khí (Section Machine): hai năm đầu với tính cách Học viên Cơ Khí (E.O.M.- Éléve Officier Machine). Sau đó có thể được lên Sĩ quan Cơ Khí hạng 4, hạng 3 và Cơ Khí Phó. Trong thớ gian thực tập, việc bổ nhiệm các Sinh viên Sĩ quan vào các chức vụ trên rất là uyển chuyển tùy theo nhu cầu nghề nghiệp và số lượng tàu bè lúc bấy giờ.

Thi thực hành: Sau khi hoàn tất 60 tháng hải hành trên các thương thuyền, các Sĩ quan Hàng Hải trở về trường tu nghiệp khoảng 6 tháng trước khi dự thi phần thực hành (Application). Trong phần thi thực hành, các thí sinh Ban Pont, ngoài các bài thi viết về Toán Hải hành (Calcul Nautique) và các bài tính về Thủy triều (Calcul des Marées) phải qua các phần khảo sát có tính cách chuyên nghiệp, những phản ứng cấp thời trong những trường hợp đặc biệt có thể xảy ra trong nghề nghiệp của ḿnh.

Các ứng viên trúng tuyển sẽ được cấp Văn Bằng Thực hành: Văn bằng Cận Duyên/Viễn Duyên Thuyền Trưởng (Brevet de Capitaine au Petit/Grand Cabotage), Văn bằng Cơ Khí Hạng Nh́/Cơ khí Hạng Nhứt (Brevet Mécanicien 2ème classe/Mécanicien 1ère classe).

 

Với các văn bằng thực hành, các đương sự được chánh thức và hợp pháp đảm nhiện các chức vụ tối cao như sau trên các thương thuyền: Thuyền Trưởng cho các ứng viên trúng tuyển Ban Chỉ Huy ; Cơ Khí Trưởng cho các ứng viên trúng tuyển Ban Cơ Khí.

 Trên thực tế, các sỉ quan tốt nghiệp các bằng thực hành c̣n phải đảm nhiệm các chức vụ phụ tá như Phó Thuyền Trưởng và Cơ Khí Phó trong một thời gian từ 1 đến 2 năm mới có thể lên Thuyền Trưởng và Cơ Khí Trưởng tùy theo nhu cầu nhân sự.

Tính ra, một sinh viên từ khi bước chân vào Trường Hàng Hải phải trải qua 10 năm dài mới có thể làm Thuyền Trưởng và Cơ Khí Trưởng.

Các môn học: Đa số các môn học được giảng dạy bằng Việt ngữ, tuy nhiên một số tài liệu có tính cách chuyên môn được tŕnh bày bằng tiếng Pháp và Anh. Cho đến năm 1955, v́ phần lớn giáo sư là người Pháp cho nên các môn học được giảng dạy có thể nói là 100% bằng tiếng Pháp.

ü  Ban Chỉ Huy :  Thiên Văn Hải hành (Astronomie Nautique), Hải Hành (Navigation), Toán Hải Hành (Calcul Nautique), Hải Đồ và các dụng cụ hải hành (Cartes marines et Instruments Nautiques), Kỷ thuật tàu (Technologie navale), Vận chuyển – Chuyển hàng – Pḥng tai (Manoeuvre – Manutention – Sécurité),Thủy thủ công (Matelotage), Quy luật tránh tàu (Réglèment d’abordage) ,Thủy hiệu-Hải hiệu-Hải đăng (Hydrographie – Balisage – Phares) ,Luật Hàng hải (Législation maritime) , Y tế Hàng hải (Hygiène navale) , Khí tượng học (Météorologie) , Cơ học áp dụng (Mécanique appliqué) ,Toán- Điện từ (Mathématiques-Électromagnétisme), Sinh ngữ Pháp và  Anh.

ü  Ban Cơ khí :. Máy tàu (Machines marines) , Các động cơ nổ và Diésel (Moteurs à explosion et Diésel) , Turbine khí (Turbine à gas) ,Nguội-Dũa-Hàn (Adjustage – Soudure) , Kỷ nghệ họa (dessin Industriel), Kỷ nghệ lạnh (Frigo), Kỷ thuật học (Technologie navale),Điện kỷ nghệ (Électricité industrielle), Cơ học áp dụng (Mécanique appliqué) ,Điện từ (Électromagnétisme) , Nhiệt độ học (Thermodynamique) , Pḥng tai (Sécurité), Luật hàng hải (Législation maritime), Toán,  Sinh ngữ Pháp và Anh.

ü  Các Giáo sư kỳ cựu: Trường Viêt Nam Hàng Hải từ ngày thành lập có những giáo sư kỳ cựu như sau :Giáo sư Bùi Quang Khánh, Kỷ sư tốt nghiệp Institut Électronique de Toulouse, dạy Kỷ Nghệ họa và Kỹ thuật học, Giáo sư Patron, dạy Thiên văn Hàng hải, Toán Hàng hải, Hải hành, Hải đồ, Dụng cụ hải hành từ 1947 đến 1955, Giáo sư Apex, dạy môn Hải hành, Giáo sư Giraud, Kỷ sư Pháp dạy Kỹ thuật học, Giáo sư Moreuil, Kỷ sư Pháp dạy Chuyển hàng, Pḥng tai, Giáo sư Gallois dạy môn moteur, Giáo sư Gourand dạy môn machine, Giáo sư Corbin, Thiếu tá Hải Quân Pháp dạy Luật Hàng hải. Ông là Giám Đốc Sở Đăng kư Hàng hải (Administrateur de l’Inscription Maritime), Giáo sư Mérillon, cũng là Giám Đốc Sở Đăng kư Hàng hải, dạy môn Luật Hàng hải, Ông Lương Quang Thọ, Cựu Hoa tiêu sông Saigon, dạy môn Hải hành, Giáo sư Nguyễn Văn Đức, Kỷ sư Công Chánh, dạy môn Thủy Hiệu học, Giáo sư Jean Ducasse, Thuyền Trưởng Viễn Dương Pháp, dạy các môn Toán và Thiên Văn Hải hành.

ü  Để đáp ứng nhu cầu hữu hiệu hóa các môn học có tính cách chuyên môn, trường đă mời nhiều viên chức cao cấp trong chánh quyền cũng như trong ngành nghề hàng hải đến cộng tác như:  Học viện Quốc Gia Hành chánh, Nha Khí tượng Saigon, Luật sư đoàn Việt Nam, Nha Thủy vận,,Trường Pétrus Trương Vĩnh Kư, Các cựu Thuyền trưởng và Hoa tiêu và Hải Quân Việt Nam .

 

Đến năm 1973, Đội Thương thuyền quốc gia phát triển mạnh mẻ với sự hiện diện của những chiếc tàu chạy ra ngoại quốc, vượt quá giới hạn của các vùng hoạt động đang có, trường Việt Nam Hàng Hải đă được nâng lên cấp Cao Đẳng nhằm đào tạo những Viễn Dương Thuyền Trưởng  (Grand Cabotage) và các Kỷ sư Cơ khí Hàng hải để phục vụ trên các loại tàu lớn chạy trên các trục hải hành quốc tế. Sinh viên phải học một chương tŕnh qui định là 4 năm, nhưng khóa nầy chưa hoàn tất được v́ biến cố 30/4/1975.

Trước khi kết thúc bài tham khảo nầy, thật là một điều thiếu sót nếu không đề cập đến mối liên quan mật thiết giữa hai tập hợp của những người đi biển là Hàng Hải và Hải Quân.

Từ những khóa đầu tiên thời Pháp thuộc, một số các sĩ quan Hàng hải đă cam kết phục vụ trên các chiến hạm Hải quân Pháp trong một thời gian qui định sau khi tốt nghiệp.

 Rồi từ năm 1947 trở về sau, đặc biệt trong những khóa đầu tiên của Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa, có thể nói toàn thể các khóa nầy đều là những người tốt nghiệp từ trường Hàng Hải.

 Trong những năm đầu đầu thập niên 1950, v́ nhu cầu phát triển quân chủng Hải Quân trong thời gian chuyển tiếp, các sĩ quan được huấn luyện cấp tốc bằng cách dùng những sinh viên hàng hải đă có những căn bản kiến thức về hải hành chuyên nghiệp chuyển đến Trung tâm Huấn luyện Hải Quân Nha Trang để bổ túc về quân sự như chiến thuật hải quân, hải pháo, v…v… và những sĩ quan tốt nghiệp các khóa đầu tiên Hải Quân đă trở thành những vị Tư Lệnh cao cấp và Chỉ huy trưởng các lực lượng Hải Quân về sau.

 Hơn nữa, các Sĩ quan Hải Quân khi giải ngũ và muốn tiếp tục con đường hải nghiệp của ḿnh, có thể về trường Việt Nam Hàng Hải dùng thời gian hành thủy của ḿnh lúc tại ngũ để thi lấy các văn bằng hàng hải để phục vụ trên các thương thuyền hoặc các ngành hoa tiêu, thương cảng, vv… Cũng v́ mối quan hệ mật thiết giữa hai tập thể Hàng Hải và Hải Quân, trong một buổi họp khoáng đại của Tổng Hội Hải Quân trong thập niên 1990, toàn thể Đại hội đă biểu quyết đổi danh hiệu là Tổng Hội Hải Quân và Hàng Hải Việt Nam.

 

Vào năm 1973 này, theo Sắc lệnh số 033-SL/GD ngày 21/03/1973 , Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ)  đổi thành Viện Đại Học Kỹ Thuật (Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật - HVQGKT).  Viện Đại Học Kỹ Thuật này bao gồm sáu (6) trường thành viên: Trường Cao Đẳng Công Chánh, trường Cao Đẳng Công Nghệ , trường Cao Đẳng Điện Học, trường Cao Đẳng Hóa Học, trường Cao Đẳng Hàng Hải (Việt Nam Hàng hải) và Trường Kỹ Thuật và Khoa Học Căn Bản.

Theo tài liệu  [8] : Đáng chú ý, trường Kỹ thuật và Khoa học căn bản được thành lập theo sắc lệnh 135SL/GD để hỗ trợ cho năm trường cao đẳng thuộc HVQGKT. Trường Kỹ thuật và Khoa học căn bản có nhiệm vụ giảng dạy cho sinh viên năm thứ nhất các kiến thức về kỹ thuật khoa học để sinh viên có thể theo các ngành chuyên môn ở các năm tiếp theo (tại năm trường cao đẳng c̣n lại). Học sinh có bằng Tú Tài 2, ban B (Toán)  hoặc Tú Tài  Kỹ Thuật Toán của trường Trung học Kỹ thuật Công nghiệp được thi tuyển, nếu đậu sẽ học năm thứ nhất tại trường này .

Và chỉ khoảng một tháng sau ,Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức được thành lập  theo Sắc lệnh số 083-SL/GD ngày 30/04/1973 .

Tiếp theo đó ,vào ngày 11/01/1974 do  Sắc lệnh số 010-SL/VNGDTN, Viện Đại Học Kỹ Thuật ( trước đó là  Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ))   là thành viên Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức, với tên Trường Đại học Kỹ thuật  và chỉ đào tạo hệ đại học.

Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức gồm có 7 trường đại học thành viên, trong đó có 3 trường đă tồn tại  và hoạt động riêng rẽ trước đó ( đánh số 1, 2 vả 3)  và 4 trường mới (đánh số 4,5,6,và 7) : 

  1. Trường Đại học Kỹ Thuật : Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ (1957), bao gồm Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Điện Lực, Trường Kỹ Sư Công Nghệ, và Trường Việt Nam Hàng Hải ;
  2. Trường Đại học Nông nghiệp: Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Nông-Lâm-Súc, rồi Học viện Quốc gia Nông Nghiệp (1972) ;
  3. Trường Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức ;
  4. Trường Đại học Kinh Thương ("Kinh Thương" là viết tắt của "Kinh tế và Thương mại") ;
  5. Trường Đại học Khoa học Cơ bản ;
  6. Trường Đại học Thiết Kế Thị Thôn ("Thị Thôn" là viết tắt của "Thành thị và Nông thôn") ;
  7. Trường Sau Đại học (tiếng Anh: College of Graduate Studies), điều phối các chương tŕnh đào tạo bậc Cao Học và Tiến Sĩ.

(Xem thêm chi tiết trong bài Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức  của cùng tác giả).

Theo tài liệu  [9] :  Rất tiếc, miền Nam sụp đổ ngày 30/4/1975 kéo theo sự tan vỡ của một kế hoạch phát triễn Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức  theo hướng của các quốc gia tân tiến. 

 

Sau ngày mất nước 30/4/1975, trường Trường Việt Nam Hàng Hải (Phú Thọ)  bị ngụy quyền cộng sản tịch thu vá sát nhập vào trường Hàng Hải Hà Nội (Sic).

Phụ đề 1  :  Sơ lược tiểu sử người sáng lập và Hiệu Trưởng đầu tiên trường kỹ thuật Cao Thắng, ông Emmanuel Rosel

 

Theo tài liệu  [3] :

Ông Emmanuel Rosel, sanh ra ở  Toulon- Pháp ngày 31 tháng 1 năm 1866.  Sau khi tốt nghiệp trường École Nationale des Arts et Métiers d'Aix, năm 18 tuổi, ông t́nh nguyện vào Hải Quân Pháp như một học tṛ tập sự cơ khí. Ngay sau đó tham dự chiến dịch Bắc Kỳ (Tonkin) dưới lệnh của Đô Đốc Courbet.

Ông Rosel là kỹ sư về máy (cơ khí ?)  nơi sở Ba Son (Arsenal) . Khả năng chuyên nghiệp của ông đă  giúp ông có được nhiều cấp bực nghạch trật liên hệ tới sự nghiệp của ông: Ngày 8 tháng 8 năm 1911, ông được phong làm Cơ Khí Trưởng  và ngày 7 tháng 12 năm 1921, làm Thanh Tra Cơ Khí  (mécanicien inspecteur - thanh-tra các trường dạy máy  cơ khí ). Ông về hưu (giải ngũ) Hải Quân Pháp ngày 31 tháng 1 năm 1924 với chức Kỹ Sư Cơ Khí Trưởng (mécanicien en chef ) - hạng nh́ . Trong cuộc đời binh nghiệp, ông Emmanuel Rosel lên tới chức Đại tá hải quân Pháp .

Vào tháng 2 năm 1906, ông được giao cho một nhiệm vụ thành lập  trường École des Mécaniciens Asiatiques (Trường Cơ Khí Á Châu),  rồi ngay sau đó vào ngày 1 tháng 3, ông được rời khỏi nhiệm vụ này để làm hiệu trưởng trường này.

Đầu  tiên ,trường École des Mécaniciens Asiatiquesđược đặt ở trường École Professionnelle d’Industrie  trên đường Chasseloup Laubat, trổ ra đường Miche (sau này là trường trung học kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ trên đường Hồng Thập Tự - Phùng Khắc Khoan), sau đó vào năm  1908 th́  dọn về địa chỉ trên đường Đổ Hữu Vị (sau là Huỳnh Thúc Kháng). (Xem thêm chi tiết  về trường kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ trong bài  Trường trung học ở Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975- Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ của cùng tác giả) .

Do những hoạt động phi thường của nhà thủy thủ này, ngôi trường khiêm tốn càng ngày càng quan trọng. Điều này không ngăn cản ông đảm nhiệm thêm chức vụ khác.

Trong giai đoạn thế chiến thứ nhất, trường được trưng dụng bởi bộ quốc pḥng. Năm 1916, các xưởng của trường mỗi ngày, tiện được 700 đại bác 75 ly. Sau đó c̣n gửi qua Pháp một đội gồm có 1600 tập sự t́nh nguyện, để giúp chính quốc  có nhiều phương tiện.

Sau khi chiến tranh chấm dứt, trường lấy lại nhiệm vụ ban đầu , nhưng trường cũng không ngừng  thành lập thêm nhiều ngành mới khác trong chương tŕnh giảng dạy : Điện khí,lái xe hơi, lớp tập sự chủ nhật .Một trường hàng hải được mở ra.

Kể từ ngày 21 tháng 6 năm 1918, ông Rosel được chỉ định chức vụ Thanh Tra chương tŕnh giáo dục chuyên nghiệp. Ngày 24 tháng 5 năm 1924, ông  làm việc quần quật để  điều khiển vận mệnh của trường.

Theo tài liệu [10] : Vào năm 1924, hai trường dạy nghề  (Trường dạy bá nghệ, tên Pháp là École Pratique d’Industrie đường Hồng Thập Tự và  trường École des Mécaniciens Asiatiques  ở đường Huỳnh Thúc Kháng ) đều giao cho Rosel làm hiệu trưởng và gọi chung là École Technique Spéciale de Sàig̣n.

Tất cả những người quen biết với ông, đều giữ trong trí nhớ một h́nh dáng quen thuộc với tất cả Sàig̣n: một thiện nhân, h́nh vóc nhỏ, thẳng như chữ I, bó trong áo nẹp rộng tay (của kỵ binh) (dolman) thời trang kiểu xưa, kiếng cặp trên mũi sẵn sàng chiến đấu, luôn luôn ở  t́nh  trạng báo động, luôn luôn bận rộn, chạy từ một công chuyện này tới  một công chuyện khác, ngồi thụt sâu trong một chiếc xe hơi lỗi thời  và là chiếc xe xập xệ nhứt trong số những xe dưới sự kiểm soát của ông.

Một người nhanh lẹ như thuốc súng, mănh liệt trước những mâu thuẫn, ở ông đốt một ngọn lửa nội tâm đôi khi nổ ra mănh liệt  với một  cá tính vùng  Midi, Pháp, từ lời nói tới bộ tịch .

Tác giả tài liệu[10]  viết :

 ‘’Rosel, người lùn, không hơn 1 mét 50, nhưng có bề ngang, đi đứng nhậm lẹ, tay bằng miệng, miệng bằng tay, tiếng nói rổn rảng như máy nổ, có thể nói ông là thực dân xấu nhứt, v́ ông hay rầy và quở các học tṛ trường ông, nhưng xin cho tôi  gia cải chính minh oan cho ông và tôi dám quả quyết Rosel là người thương và giúp ích cho người Việt ta nhiều hơn các Tây ở đây tôi đă biết.

Tôi xin kể nhiều về trường Rosel, v́ ông nầy là ân nhơn đỡ đầu cho tôi khi tôi thi đậu ra trường, và cũng nên gọi ông là ân nhơn của nhiều thế hệ người hành nghề về máy, máy tàu cũng như máy xe hơi.

Theo tôi, Rosel giỏi nghề giao thiệp, nhờ sửa chữa máy tàu, máy xe mà ông thân thiện với các tay to mặt lớn, và nhờ giúp nhiều cho Thống Đốc, khiến nên khi sắp hạng và định lương cho học tṛ trường, Rosel đă ̣n ỹ và xin được sắp hạng người học trường của ông được ăn lương ngang hàng với lương thơ kư ngạch Soái-phủ (ông cắt nghĩa phải được lương cao th́ ông mới tuyển được nhiều học tṛ trường các tỉnh người học nghề máy , vả lại nghề lành giỏi máy và không dịp ăn hối lộ là nên khuyến khích. Cố nhiên Thống Đốc y lời ông Rosel. Ngoài số lương hậu hỷ, những thầy thợ dạy nghề của trường, Rosel đều  được cấp nhà để ở  khỏi tiền (dăy bọc theo đường Pasteur) . Và khi những thợ máy ấy về hưu, Rosel vẫn vận động cho làm sếp coi máy hoặc hăng ḷ đường Đức Ḥa, hoặc coi máy tàu các tỉnh miền Tây, Cà Mau, Năm Căn, nhàn hạ’’.

Ông Rosel chết đột ngột ở Sàig̣n ngày 24 tháng 10 năm 1939 lúc 73 tuổi, gây nỗi bàng hoàng cho  những người bạn hữu và các cộng sự viên của ông.

Tác giả tài liệu  [10]  viết : 

‘’Rosel, th́nh ĺnh đang mạnh khỏe, một đêm vào năm 1939 ông dùng cơm tối, bị mắc nghẹn, phu nhơn định sai người đi rước bác sĩ Viel, Rosel cản lại rằng họ ăn giá mắc (10$ thay v́ giá ban ngày là 5$), hà tiện  năm đồng bạc, đêm ấy ông nghẹn thở. Và năm ấy tôi không hay và rất tiếc không được tiễn một quan thầy đỡ đầu tốt bụng. Duy anh Nguyễn Văn Thành, có nhà ở Kho Đạn gần vườn Thảo Cầm (Sở Thú), một tay lo việc tẩm liệm và quan tài của Rosel được đưa xuống tàu chở về an táng ở quê nhà tại Toulon ‘’.

Ông Emmanuel Rosel đă nhận được nhiều giấy chứng nhận hài ḷng của Toàn Quyền Đông Dương, Thống Đốc Nam Kỳ và Giám đốc học vụ công cộng ở Đông Dương. Ông được phong là Officier de la Légion d'Honneur (ngày 24 tháng 12 năm 1923), Officier de l'instruction publique (Giáo dục công cộng) và là người  được giải thưởng  (titulaire) tất cả mề đay của l'Union Indochinoise.

Bởi nghị định số 123-N  ngày 18 tháng 5 năm 1940 của Toàn Quyền Đông Dương , trường École des Mécaniciens Asiatiques đổi tên thành trường École des mécaniciens-École Rosel để tưởng nhớ công ơn người sáng lập.

 

Phụ đề 2  : Vài hàng về Kỹ sư  Trần Văn Bạch 

Theo tài liệu [8] :  Ông Trần Văn Bạch  tốt nghiệp kỹ sư  khóa 1935 của École National des Ponts et Chaussées de Paris ( Kiều Lộ) .

Ông  được mời làm Tổng Trưởng Công Chánh và Giao Thông Vận Tải trong nội các ngày 6 tháng 7 năm 1954 của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm.

Vì sự quan tâm đặc biệt về tình trạng Giáo dục Kỹ Thuật  thực tế ở Miền Nam, ông rời bỏ chức vụ Tổng Trưởng Công Chánh và Giao Thông Vận Tải để đãm nhiệm chức vụ Giám Đôc Nha Kỹ Thuật Học Vụ, tiền thân của Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ.

Ông Bạch không những là Giám Đốc  trường Cao Đẳng Kỹ Sư Công Nghệ và trường Việt Nam Hàng Hải  , ông còn là giáo sư thỉnh giảng của trường Đại học Khoa Học, trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc…

Ông  cũng là người đóng góp vào việc thành lập Trường Quốc Gia Thương Mại (École Nationale De Commerce de Saigon) vào năm 1956. Trường này được  dọn về khuôn viên Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ năm 1965 .

Hầu hết các sinh viên ngành Khoa học, Kỹ thuật đều là học trò của ông. Kỹ sư Trần Văn Bạch, một nhà giáo dục tận tâm,đã đóng góp to lớn cho nền giáo dục miền Nam.

Ông là một người rất nhân từ, khiêm tốn.Ông cho nhiều học sinh nghèo ở tỉnh theo học trường chuyên nghiệp tại Sàig̣n, được phép vào trú ngụ trong mấy cái xưởng không dùng đến.

Trong tài liệu [11],một cựu học sinh  trường Cao Thắng  cũng  viết   tương tự như trên  : ‘’ Năm 1956, tôi vào học lớp Đệ Thất Trường Kỹ Thuật Phan Đ́nh Phùng, chi nhánh của Kỹ Thuật Cao Thắng. Qua năm 1957,tôi được ông Giam Đốc Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ Kỹ sư Cầu cống Trần Văn Bạch cho tôi và một số học sinh khác tạm trú trong khuôn viên của Nha ’’.

 Ông người miền Nam, rất b́nh dị ,sinh năm 1910, mất năm 1975.

 

 

Tài liệu tham khảo :

1.     https://dongsongcu.wordpress.com/2017/09/28/truong-hang-hai-viet-nam-tu-nam-1940-den-nam-1953/ Trường Hàng Hải Việt Nam từ năm 1940 đến năm 1953 - Bùi Ngọc Hương Cựu hoa tiêu sông Sàig̣n - March, 2006 - Posted on September 28, 2017 by dongsongcu.

2.     https://bienxua.wordpress.com/2017/09/26/truong-viet-nam-hang-hai/comment-page-1/ Trường Việt Nam Hàng Hải – Bùi Ngọc Hương – Cựu Hoa tiêu sông Saigon - Ngày 06 tháng 3 năm 2006 -Posted by bienxua on September 26, 2017 .

3.     André Baudrit-Guide historique des rues de Saigon-1re édition-S. I. L. I. Saigon-1943.

4.     https://damtrungphan.wordpress.com/2022/12/25/cuu-thuyen-truong-pham-ngoc-luy-qua-doi/ Cựu Thuyền Trường Phạm Ngọc Lũy qua đời - Posted by dam trung phan on 25/12/2022.

5.     https://hon-viet.co.uk/GiaoChi_TauTruongXuanVaThuyenTruongPhamNgocLuy.htm Tàu Trường Xuân và Thuyền Trưởng Phạm Ngọc Lũy -Giao Chỉ.

6.     https://chienhuuvnch.com/2022/12/28/chuyen-tau-truong-xuan-pham-ngoc-luy/

Chuyện tàu Trường Xuân – Phạm Ngọc Lũy-2022/12/28.

7.     http://startup.gov.vn/Pages/NguonNhanLuc.aspx?ItemID=91 Bộ Khoa Học và Công nghệ - Cổng Thông Tin Khởi Nghiệp Đổi Mới Sáng Tạo Quốc Gia - Trường Đại học Bách Khoa TP. HCM .

8.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975.

9.     GS. Huỳnh Công Ân – Các trường Đại Học ở miền Nam trước 1975  (Phần 1).

10.  https://ahvinhnghiem.org/CaoThang/VuongHongSenVietVeKTCaoThang.html Vương Hồng Sển viết về KT Cao Thắng - Nguyễn Hoạt  đăng .

11.  Huỳnh Ái Tông - Tản Mạn Về Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ .

 

07- Học Viện Quốc Gia Hành Chánh ( Trường Quốc Gia Hành Chánh ) -  Số 10, đường Trần Quốc Toản - Quận 10 – Sàig̣n

Học Viện Quốc Gia Hành Chánh  (HVQGHC) là  hậu thân của trường Quốc Gia Hành Chánh Đà  Lạt .

Theo tài liệu [1,2,3] : Trường Quốc Gia Hành Chánh được thành lập tại Đà Lạt do Nghị Định số 246-CAB/S của Quốc Trưởng Bảo Đại kư ngày 7 tháng 4 năm 1952 . Trường trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục .

Tuy nhiên,theo tài liệu [1] :  Cơ sở của trường Quốc Gia Hành Chánh này  đă được thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản kư ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lănh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt.

Và theo tài liệu [2,4] :  Hạt nhân của Trường  lúc đầu là trường Đại học Luật Khoa ở Hà Nội với một bộ phận  dời lên Đà Lạt.

(Phụ chú : Như thế bộ phận này của trường Đại học Luật Khoa có phải là cơ sở ban đầu  của trường Quốc Gia Hành Chánh Đà Lạt thành lập năm 1950 như đă viết trong tài liệu [1] ? Xin các bâc thức giả bổ túc dùm. Xin đa tạ ).

Theo tài liệu [5] : Trụ sở của Trường Quốc Gia Hành Chánh  được đặt tại Hôtel Du Lac, Đà Lạt.

Theo tài liệu [3] : Do bởi Nghị Định số 560-PTT/TTK ngày 22 tháng 8 năm 1954, trường Quốc Gia Hành Chánh được cải tổ và đặt trực thuộc Phủ Thủ Tướng .

Tài liệu  [6]  viết :   Năm 1955, sau khi thành lập nước Việt Nam Cộng Ḥa, do bởi Nghị Định 483-TTP/TTK ngày 9 tháng 8 năm 1955, trường Quốc Gia Hành Chánh đổi tên thành Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (HVQGHC) .

Hơn nửa, theo tài liệu [1] : Đến năm 1955 sau khi về nước chấp chánh, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm v́ nhận thấy vai tṛ quan trọng của cán bộ hành chánh trong công cuộc xây dựng quốc gia nên đă cho dời trụ sở của trường từ Đà Lạt về Sàig̣n và đổi tên  thành Học viện Quốc Gia Hành Chánh (HVQGHC), trụ sở đặt tạm tại số 4 đường Alexandre de Rhodes-Quận 1,  địa điểm này sau  là trụ sở của Bộ Ngoại Giao của Việt Nam Cộng Ḥa.

 

 

Mặt tiền Học Viện Quốc gia Hành Chánh trên đường Alexandre de Rhodes, Sàig̣n - H́nh trích từ tài liệu [2] 

Theo tài liệu  [2] : Niên học 1955, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh có 97 sinh viên .

Theo tài liệu [3 ]  : Học Viện Quốc Gia Hành Chánh  trực thuộc Phủ Thủ Tướng . Đến năm 1957, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh  trực thuộc Phủ Tổng Thống .

Rồi lại dời về trường sở mới to lớn và khang trang tại số 10, đường Trần Quốc Toản, Quận 3 (quận 10?), vào năm 1958  (1962 theo tài liệu [1] , 1963 theo  tài liệu [5]).

Theo tài liệu [7 ]  : Giáo sư Vũ Quốc Thông lúc đó đương kim Bộ Trưởng Bộ Xă Hội và Y Tế được bổ nhiệm làm Viện Trưỡng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh .

 

 

Năm 1962, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh được chuyển về trường sở mới tại số 10, đường Trần Quốc Toản - H́nh trích từ tài liệu [8] 

 

Buổi lễ khánh thành Học Viện Quốc Gia Hành Chánh vào ngày 23 tháng 8 năm 1962 -H́nh trích từ tài liệu [8] 

 

Mặt tiền Học Viện Quốc Gia Hành Chánh đường Trần Quốc Toản

 

Cơ sở  mới của HVQGHC này gồm có giảng đường 500 chỗ, kư túc xá cho 114 sinh viên, thư viện với hơn 100.000 văn bản, nhà sinh hoạt, sân quần vợt, sân bóng chuyền, câu lạc bộ và băi đậu xe rộng mênh mông. Trụ sở mới c̣n có nguồn nước giếng riêng và máy phát điện .

 

Học Viện Quốc Gia Hành Chánh  – H́nh trích từ tài liệu [9] 

 

Không ảnh Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (bên trái của h́nh) năm 1966 -  Bên phài của h́nh  là Tháp Nước nơi công trường Dân Chủ

 

Đại học Tiểu bang Michigan/Michigan State University (MSU) - Hoa Kỳ (1955-1962) trợ giúp trong việc soạn giáo tŕnh cho Trường . Kho sách của Trường được coi là một trong những thư viện lớn nhất của Việt Nam Cộng Ḥa.

Đại học Michigan State University, Hoa Kỳ cũng bảo trợ chương tŕnh đào luyện một lực lượng sĩ phu hành chánh mới, thấm nhuần tinh thần quốc gia và kỷ thuật quản trị khoa học tân tiến.

Từ năm 1966, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh trực thuộc Phủ Thủ Tướng .

Đến ngày 23 tháng 6 năm 1973 với Sắc lệnh số 583-TT/SL của Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa , Học Viện Quốc Gia Hành Chánh đổi tên  thành trường Quốc Gia Hành Chánh và  trực thuộc Phủ Tổng Ủy Công Vụ.

Theo  tài liệu [5,9] :

Mục tiêu  của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh :

1.     Đào tạo các cấp chỉ huy hành chánh với tŕnh độ đại học để phục vụ trong các cơ quan công quyền tại trung ương và địa phương;

2.     Nghiên cứu và phát triển nền hành chánh của Việt Nam Cộng Ḥa để theo kịp trào lưu thế giới ;

3.     Tham vấn cho các cơ quan chính phủ về các vấn đề liên quan đến hành chánh công quyền ;

4.     Tu nghiệp công chức .

Tổ Chức :

Học Viện gồm có:

Các  Giám Đốc, Viện Trưởng, Phó Viện Trưởng :

Giám Đốc ( Thời trụ sở Trường tại Đà Lạt ) :

Viện Trưởng (Thời trụ sở Trường tại Sài G̣n ):

Phó Viện Trưởng:

 

Ban Giảng Huấn:

Lúc đầu Ban Giảng Huấn gồm các giáo sư ngành luật và các công chức cao cấp giàu kinh nghiệm hành chánh; Ngoài ra c̣n có một số giáo sư Mỹ thuộc Phái Đoàn Michigan giảng dạy bằng tiếng Anh với sự trợ giúp của các thông dịch viên. Dần dần với đà phát triển của Học Viện, số giáo sư gia tăng và trở nên đa dạng hơn.

Theo tài liệu [8] : Học viện QGHC đă có một ban giảng huấn rất hùng hậu. Nhiều giáo sư cơ hữu có bằng Tiến Sĩ tốt nghiệp trong nước và ngoại quốc,

Trước năm 1975, Trường có 22 giáo sư tốt nghiệp ngành Luật, 5 giáo sư ngành Hành Chánh Công Quyền, 7 giáo sư ngành Chính Trị Học, 4 giáo sư ngành Kinh Tế, 1 giáo sư ngành Quản Trị Kinh Doanh, 1 giáo sư ngành Xă Hội Học, 2 giáo sư ngành Tài Chánh . Đa số các giáo sư tốt nghiệp ở ngoại quốc như Mỹ, Pháp. Ngoài các giáo sư cơ hữu, Học Viện c̣n mời thêm các giáo sư từ Đại Học Luật Khoa, các chánh khách có tăm tiếng và nhiều viên chức hành chánh cao cấp trong chánh phủ giàu kinh nghiệm đến giảng dạy về các đề tài thuộc lănh vực chuyên môn của họ.

Ngoài ra theo tài liệu [9] : Ban Giảng huấn gồm các giáo sư cơ hữu của Học Viện  Quốc Gia Hành Chánh và các giáo sư thỉnh giảng từ Đại học Luật khoa. Sau đây là danh sách các giáo sư xếp theo vùng miền:

* Giáo sư sinh trưởng tại miền Nam và miền Trung:  Tôn Thất Trạch, Cao Hữu Đồng, Nguyễn Xuân Khương, Trần Ngọc Liên, Trương Ngọc Giàu, Trần Văn Pḥ, Trần Văn Binh, hai Đốc Phủ Sứ  có bằng Cử nhân Luật : Lê Văn An và Bùi Quang Ân, Phan Tấn Chức, Châu Tiến Khương và Nguyễn Tấn Thành (giáo sư đại học Luật khoa).

*Giáo sư sinh trưởng miền Bắc: Vũ Quốc Thông, Nghiêm Đằng, Trần Văn Đỉnh, Trần Văn Kiện, Nguyễn Quang Quưnh, Nguyễn Mạnh Tư, Vũ Uyển Văn, Lê Đ́nh Chân, Nguyễn Lê Giang, Nguyễn Cao Hách và Nguyễn Độ (giáo sư đại học Luật khoa).

Hơn nửa, theo tài liệu [10] :  Các giáo sư Học Viện  Quốc Gia Hành Chánh (QGHC)  từ 1964  đến 1967 : Nguyễn Văn Bông ,Nghiêm Đằng  ,Nguyễn Ngọc Huy (dạy môn Chính trị học và Luật Hiến pháp từ năm 1965 ) , Vương Văn Bắc, Bộ Trưởng Ngoại Giao của VNCH .Nguyễn Thị Huệ , Trần Văn Đỉnh ,Trần Văn Kiện,Trần Văn Binh, Trần Văn Đỉnh,Trần Văn Kiện,Trần Văn Binh,Nguyễn Quang Quưnh,Nguyền Như Cương,Phan Thiện Giới, Bùi Quang Khánh,Nguyễn Khắc Nhân,Trần Ngọc Phát, Lương Thọ Phát,Lê Văn Thận và Nguyễn Duy Xuân.

Ngoài ra theo tài liệu [7,11] :  Học Học Viện  Quốc Gia Hành Chánh  c̣n có các giáo sư : Hoàng Xuân Hào , Cao Văn Hở , Lê Công Truyền  và Trần Ngọc Phát . 

Các phái đoàn cố vấn: Phái Đoàn MSU (Michigan State University) 1955-1962, và Phái Đoàn IPA (Institute of Public Administration), 1971-1975 .

 

Tuyển Sinh:

·        Ban Tham Sự: (1956-1970) : Số tuyển sinh thay đổi từ 77 đến 127;

·        Ban Đốc Sự: (1955-1975) : Mỗi năm trường tổ chức cuộc thi tuyển 100 sinh viên với số nữ sinh viên tối đa là 6%, ngoại trừ khóa 17 tuyển sinh được nâng lên 200.

Điều kiện dự thi là các thí sinh phải có bằng Tú Tài Toàn Phần (Tú Tài 2)  hoặc là các công chức có thâm niên công vụ cho ban Tham Sự, Đốc Sự. Mỗi kỳ thi số thí sinh rất đông. Năm 1962 (khóa 10) số thí sinh là 2.000; Năm 1963 (khóa 11) số thí sinh là 3.000 và năm 1974 (khóa 22)  số thí sinh lên đến 8.000 ;

·        Ban Cao Học: (1965-1975) : Khởi đầu  Ban Cao Học chỉ có 2 ngành: Hành Chánh và Kinh Tế Tài Chánh. Đến trước năm 1975, Ban Cao Học có 6 ngành: Hành Chánh, Kinh Tế, Tài Chánh, Xă Hội, Ngoại Giao và Thẩm Tra Kế Toán. Mỗi năm số tuyển sinh cho mỗi Ban từ 10 đến 20 (50 theo tài liệu  [8] ) . Số thí sinh cũng rất đông (Khóa 8 Ngoại Giao số thí sinh là 400 ). Điều kiện dự thi là thí sinh phải có bằng Cử Nhân hay tương đương hoặc tốt nghiệp Ban Đốc Sự.

Theo tài liệu [6] : Tất cả thí sinh dự tuyển phải trải qua một kỳ khảo hạch gồm một bài b́nh luận về các vấn đề văn hóa, xă hội, kinh tế, chính trị…, để lượng giá kiến thức tổng quát, khả năng suy luận và khả năng diễn đạt tư tưởng của thí sinh.

Đa số thí sinh bị loại v́ bài b́nh luận. Ban giám khảo chỉ chọn một số thí sinh có điểm cao về bài b́nh luận. Sau đó chấm tiếp các bài khác của các thí sinh đă được chọn, với hệ số thấp hơn, như bài thi về sử kư hoặc địa lư nhân văn hay địa lư kinh tế và một bài sinh ngữ, để tuyển chọn 100 thí sinh hằng năm trong hằng ngàn thí sinh dự tuyển. Tỷ số trúng tuyển khoảng 5% mỗi năm cho các ban.

Bài b́nh luận với hệ số 4 là một bài trắc nghiệm về khả năng am hiểu vấn đề, khả năng phân tích và khả năng b́nh phẩm, tổng hợp một đề cương

Thí sinh phải thi thố tài năng qua các bài b́nh luận về triết lư trị quốc an dân, các thể chế chính trị hoặc các định chế kinh tế, xă hội quốc tế.

Đa số các đề thi của các bài b́nh luận không mấy liên quan đến chương tŕnh trung học hoặc đại học, nhằm trắc nghiệm kiến thức tổng quát về văn hoá, xă hội, kinh tế, chính trị… Kiến thức tổng quát được thủ đắc qua kinh nghiệm sinh hoạt hằng ngày hay qua các phương tiện truyền thông như báo chí, các tập san nghiên cứu, truyền thanh, truyền h́nh mà chỉ những học sinh hay sinh viên có năng khiếu theo dỏi thời cuộc, lưu tâm đến hiện h́nh đất nước hay t́nh h́nh thế giới mới nghiên cứu.

Học Viện Quốc Gia Hành Chánh có sứ mệnh đào tạo những thanh niên nam (90%) và nữ (10%) có kiến văn, khả dĩ am hiểu t́nh h́nh xă hội, văn hoá, kinh tế, chính trị để đảm nhiệm các vai tṛ quản trị nền hành chánh công quyền của Việt Nam Cộng Ḥa. Học Viện tuyển chọn các thí sinh có năng khiếu sưu tầm, quan tâm đến đời sống cộng đồng, thiên về sinh hoạt của nhân quần xă hội, hoặc có khuynh huớng bẫm sinh phục vụ quần chúng.

Bài b́nh luận với hệ số 4 là một bài trắc nghiệm về khả năng am hiểu vấn đề, khả năng phân tích và khả năng b́nh phẩm, tổng hợp một đề cương .

Theo tài liệu [9] :  Vào năm 1959 (khóa 6) , HVQGHC tổ chức tuyển sinh tại 2 trung tâm, một tại Sài G̣n và một tại thị xă Huế. Và việc tổ chức này khởi đầu và kết thúc vào năm nào không rơ.

Theo tài liệu [8] :  Các sinh viên trúng tuyển được nhận một học bổng $2000.00 mỗi tháng cho sinh viên thường, c̣n sinh viên nguyên là công chức được tiếp tục lảnh lương cũ, ngoại trừ phụ cấp chức vụ.

 

Học Tŕnh:

Chương tŕnh huấn luyện gồm 3 Ban :

·        Ban Tham Sự Hành Chánh: 1 năm và 3 tháng thực tập;

·        Ban Đốc Sự: khởi đầu là 3 năm (2 năm 6 tháng tại trường và 6 tháng thực tập tại trung ương và điạ phương), sau tăng lên 3 năm 6 tháng và kể từ khóa 20 tăng lên 4 năm. Các sinh viên phải viết Tờ Tŕnh Thực Tập và Luận Văn Tốt Nghiệp.

·        Ban Cao Học: 2 năm (kể cả thời gian thực tập).

Tài liệu [6]   cũng viết tương tự như trên :

Chương tŕnh huấn luyện gồm 3 Ban :

1.     Tham Sự, 1 năm (5 khóa tốt nghiệp từ năm 1965-1970) ;

2.     Đốc Sự, 3 năm rưỡi (20 khóa tốt nghiệp từ 1952-1975);

3.     Và Cao Học, 2 năm (8 khóa tốt nghiệp từ 1965-1975).

Theo tài liệu [2] : 

Tham Sự

Tham sự là chương tŕnh hai năm ngay tại Học Viện Quốc Gia Hành chánh. Có tất cả năm (5) khóa Tham sự (mỗi khóa 100 sinh viên) và một (1) khóa Tham Sự Đặc biệt dành cho các sắc tộc thiểu số như người Thượng, người Việt gốc Miên và người Chàm.

Theo tài liệu [1] :   Ban Tham Sự với học tŕnh hai năm   nhằm đào tạo công chức hạng B.

Đốc Sự/Giám Sự

Đốc Sự hay Giám Sự là hai chức danh phân biệt ban Hành Chánh (Đốc Sự) và ba Kinh Tế (Giám Sự). Kể từ năm 1963, th́ gộp lại chỉ c̣n Ban Đốc Sự.

 Kể từ ngày thành lập Học Viện Quốc gia Hành Chánh đến 1975, có tất cả 22 khóa Đốc Sự (mỗi khóa có 100 sinh viên được thi tuyển vào), học tŕnh là ba năm sáu tháng.

Năm đầu tiên học lư thuyết tại HVQGHC ; Năm thứ hai được đi thực tập tại các địa phương (các tỉnh và Đô thành Sài G̣n); Năm thứ ba th́ về lại HVQGHC học lư thuyết (hành chánh, tài chánh, xă hội, ngoại giao, toán, kinh tế). Sau năm thứ ba, sinh viên có 6 tháng đi thực tập tại các bộ ở Trung Ương và chọn một đề tài luận văn tốt nghiệp được giáo sư hướng dẫn chấp thuận .

Sau kỳ thi ra trường, sinh viên trở thành công chức hạng A với ngạch trật phó đốc sự hạng 3 và được cử đi làm việc theo nhu cầu bao gồm Bộ Nội vụ (cho các tỉnh và quận) tùy nhu cầu. Sinh viên mới ra trường được đề cử làm:

  1. Phó Quận trưởng (tại các quận);
  2. Trưởng Ty (tại Ṭa Hành chánh Tỉnh) hay
  3. Phó Tỉnh Trưởng (Ṭa Hành chánh Tỉnh).

Tại các Bộ chuyên môn ở Trung Ương th́ Đốc Sự có thể kiêm nhiệm Chủ Sự các Pḥng, Chánh sự vụ các Sở, hay Giám đốc các Nha.

Cao Học

Cao Học là hai năm đào tạo thêm dành cho sinh viên đă tốt nghiệp Đốc Sự hoặc có bằng Cụ Nhân các ngành học về khoa học xă hội. Cho đến năm 1975 có tất cả tám (8) khóa Cao Học (cả Ngoại giao).

Các môn học gồm những kiến thức như Soạn thảo Công văn, Kế toán Thương mại, Định chế Chính trị, Luật Hành chánh, Quốc tế Công pháp, Luật Hiến pháp, Xă hội học . 

Hơn nửa theo tài liệu [1,5] :  Từ năm 1955 đến năm 1975, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh đă liên tục tổ chức nhiều khóa Năng Lực Hành Chánh ,đây là những lớp học buổi tối dành cho quân nhân và công chức đương nhiệm để giúp họ cải tiến kỹ năng và kiến thức chuyên môn hành chánh để dự thi vào các ngạch hành chánh.

 

Chương Tŕnh Học Tập:

Theo tài liệu [5] :  Lúc khởi đầu, chương tŕnh giảng dạy chịu ảnh hưởng của Trường Hành Chánh Pháp theo khảo hướng Pháp Lư nặng về h́nh thức và luật lệ. Nhưng từ khi có sự giúp đỡ của Phái Đoàn Michigan chương tŕnh chuyển sang khảo hướng Quản Trị của Hoa Kỳ năng động , thực dụng, chú trọng về hiệu quả. Người sinh viên khi ra trường không phải chỉ là người thay mặt Chính Quyền thi hành luật pháp mà c̣n là nhà quản trị đa năng giúp trung ương và địa phương phát triển mọi mặt của xă hội.

Theo tài liệu [6] :  Chương tŕnh huấn luyện gồm các môn chính trị, kinh tế, tài chánh, hành chánh, kế toán, tư pháp, luật lao động, soạn thảo công văn, soạn thảo ngân sách, thuế khóa, phương pháp sưu tầm, xă hội học, thống kê, bang giao quốc tế, các vấn đề hành chánh điển h́nh, luật hành chánh…

Riêng ban Đốc Sự, cuối năm học, sinh viên phải thi viết 8 môn và thi vấn đáp 4 môn.

Trong năm thứ 2, sinh viên chọn ngành chuyên môn: Ban Hành Chánh hay ban Kinh Tài… Việc chọn ban nầy áp dụng từ khoá Đốc Sự Đà Lạt (1952) đến khóa 12 Đốc Sự (1964). Chương tŕnh thay đổi từ khóa 13 (1965) đến khóa 22 (1974), tất cả sinh viên học chung một chương tŕnh, không chia ban Hành Chánh hay Kinh Tài và thời gian thực tập cũng không thống nhất giữa các khóa. Trong chương tŕnh Cao Học, (1965) khi thi vào, thí sinh đă tự chọn ngành chuyên môn như hành chánh, tài chánh, kinh tế, ngoại giao, xă hội, thẩm tra kế toán….

( Lưu ư: Khoá QGHC đầu tiên gọi là khóa Đà Lạt, các khóa kế tiếp gọi theo thứ tự khóa 1, khóa 2,…,khóa 20 ) .

Qua năm thứ 3 sinh viên thường được phân chia đi thực tập tại các tỉnh địa phương hoặc các bộ tại trung ương. Sau đó trở lại HVQGHC học phần thời gian c̣n lại của chương tŕnh trước khi thi tốt nghiệp.

Trong thời gian thực tập, sinh viên nghiên cứu các vấn đề hành chánh địa phương, trung ương và gởi tờ tŕnh tam cá nguyệt về HVQGHC, đồng thời thu thập tài liệu để viết luận văn ( research paper) cho cuối khoá học. Luận văn từ 40 đến 60 trang về một trong các đề tài liên quan đến nền hành chánh công quyền quốc gia hiện hành do sinh viên tự chọn.

 

Luận văn tốt nghiệp của sinh viên Lê Thị Thúy Nga khóa 18-niên khóa 1970-1973 – H́nh trích từ tài liệu [8] 

 

Theo tài liệu [9] : Các môn học: Đa số môn học giống như đại học Luật khoa gồm : Dân luật, H́nh luật, luật Hiến pháp, Kinh tế học…nhưng thêm một số môn học riêng cho ngành hành chánh như : Chế độ Công vụ (nói về quy chế công chức), Soạn thảo Công văn
(Soạn thảo văn kiện Lập pháp như Luật, Sắc Lệnh, hay Lập quy như Nghị Định, Chỉ Thị, Thông Tư…),Tổ chức cơ quan Hành Chánh {theo công thức POSDCoRB “Planning, Organizing, Staffing, Developing, Coordinating, Reporting, Budgeting của hành chánh gia Luther Gulick năm 1935 hay cập nhật hóa năm 1970 của hăng Westinghouse phối hợp với Harvard Business School theo 3TKH “Tổ chức, Trù hoạch, Thông đạt, Kiểm soát, Huấn Luyện”. Mỗi chữ là một bài học}, Luật Ngân sách, Luật Thuế vụ, Luật Quan thuế, Các vấn đề Hành Chánh (Trưng dụng đất, Cơ quan Tự trị, Cơ quan Quốc doanh,…); và một số môn khác.  (Chính v́ đại học Luật khoa và HVQGHC học giống nhau nhiều môn nên có một số Đốc Sự đă tốt nghiệp Cử nhân Luật và Đốc Sự cùng một năm)
Theo tài liệu
[8,10] : Về chương tŕnh học, với sự hỗ trợ của Institute of Public Administration (IPA) tại New York , chương tŕnh học tại Học Viện luôn cải tiến để sinh viên tốt nghiệp có được những kiến thức hiện đại về các lănh vực quản trị công quyền, quản trị nhân sự, về các lănh vực kinh tế, tài chánh, thuế vụ, về lănh vực quyết định hành chánh, cũng như các kiến thức về văn hoá và luật pháp quốc gia.

Không giống như tại các trường đại học khác, sinh viên HVQGHC ngoài việc theo dơi các bài giảng tại lớp học có tánh cách lư thuyết, c̣n phải tham gia các buổi thuyết tŕnh và hội thảo với các chánh khách và chuyên gia về các đề tài chuyên môn.

Ngoài ra, sinh viên c̣n đuợc đi thực tập sáu tháng tại các cơ quan công quyền ở địa phương và trung ương như một công chức thực sự.

Và để chuẩn bị cho các viên chức tương lai biết sống ḥa đồng với dân chúng, học tŕnh cũng đ̣i hỏi các sinh viên phải tham gia vào các công tác xă hội hằng tuần do Học viện tổ chức.

Theo tài liệu [5] : V́ nhu cầu của đất nước trong thời chiến, sinh viên tốt nghiệp HVQGHC  c̣n phải là cấp chỉ huy kiêm cả văn lẫn vơ để khi phục vụ tại địa phương có thể đối phó với các vấn đề an ninh.

V́ vậy , các nam sinh viên HVQGHC phải theo các khóa  huấn luyện quân sự .

Theo tài liệu [6] : Từ năm 1952, sinh viên các khoá Đốc Sự Đà Lạt và các khoá Đốc Sự kế tiếp 1,2,3,4, thụ huấn quân sự tại Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt trong lúc theo học chương tŕnh hành chánh ở HVQGHC . Một phần huấn luyện quân sự cho khóa 4 và toàn khoá 5 được chuyển qua huấn luyện tại Long Hải. Sau khi tốt nghiệp các tân sĩ quan được lệnh phuc vụ tại các quân khu trong thời gian sáu (6) tháng trước khi được biệt phái về đảm nhiệm các chức vụ hành chánh tại trung ương hay địa phương.

Hơn nửa theo tài liệu [9] : Khi học tại Học viện cứ mỗi năm, vào dịp hè, các nam sinh viên phải theo học lớp quân sự lúc th́ tại vườn cao su Phú Thọ, lúc th́ tại xa lộ Biên Hoà, lúc th́ tại Trung tâm huấn luyện Quang Trung của chương tŕnh huấn luyện cấp Trung đội trưởng .

Tài liệu [5]  cũng viết tương tự như trên : Trong những tháng nghỉ hè , sinh viên phải đi thụ huấn quân sự .

Theo tài liệu [6] : Sinh viên các khoá Đốc Sự 6,7,8, từ năm 1958, sau khi măn khoá, được Bộ Quốc Pḥng động viên vào các khoá sĩ quan tại Trường Sĩ Quan (Hạ Sĩ Quan ?)  Hiện Dịch Đồng Đế, Nha Trang.

Tài liệu  [8,10]  cũng viết : Sau khi tốt nghiệp tại HVQGHC ,các nam sinh viên c̣n được gởi đi thụ huấn về quân sự tại trường sĩ quan Thủ Đức trước khi đi nhận nhiệm sở.

Theo tài liệu [5] : Từ khóa 11, các sinh viên phải tham dự trọn một khóa trừ bị tại Thủ Đức và được mang cấp bậc chuẩn úy sau khi học xong .

Theo tài liệu [6] : Đa số sĩ quan gốc công chức được Bộ Quốc Pḥng cứu xét, theo yêu cầu của các Bộ, Phủ, cho biệt phái ngoại ngạch, “chiếu nhu cầu công vụ”, về nhiệm sở cũ để đảm nhiệm các chức vụ quan trọng tại trung ương và địa phương để điều hành nền hành chánh quốc gia.

 

Theo tài liệu [8] :  Từ năm 1960 trở đi ,với sự yểm trợ của Đại học Michigan State University (MSU), các sinh viên tốt nghiệp thủ khoa của các khoá Đốc Sự hầu hết đă được cấp học bổng để du học lấy bằng Master tại Hoa kỳ, sau đó thủ khoa các khoá Cao Học cũng được học bổng đi Mỹ học lấy bằng Tiến Sĩ Ph.D.

Đa số các cựu sinh viên có bằng Ph.D. và một số có bằng Master tại Mỹ đă trở về giảng dạy cho Học Viện.

Tài liệu [11]  cũng viết tương tự : ‘’ Lúc bấy giờ (năm nào không rơ 1963 hay trước đó ?) , HVQGHC có chương tŕnh cấp phát học bổng cho các sinh viên đậu thủ khoa ở các khóa học và sau hai năm ra làm việc, được đi tu nghiệp ở Mỹ lấy bằng Cao Học, hoặc Tiến Sĩ để rồi sau đó sẽ về phục vụ cho HVQGHC’’.

Theo tài liệu [10] : Học Viện Quốc Gia Hành Chánh cũng là trung tâm phụ trách nghiên cứu hành chánh và tu nghiệp quốc gia. Về tu nghiệp Hoc viện phụ trách các chương tŕnh tu huấn cho chánh phủ như chương tŕnh phát triển chỉ huy cao cấp, chương tŕnh quản trị hành chánh cao cấp dành cho các viên chức giữ các chức vụ cao tại các phủ bộ, và chương tŕnh tu nghiệp cho cựu sinh viên HVQGHC đă tốt nghiệp quá 5 năm.
Hơn nửa theo tài liệu
[9] : Vào năm 1973 để hỗ trợ cho công việc cách mạng hành chánh, giản dị hóa thủ tục, Chính phủ  Việt Nam Cộng Ḥa đă thành lập Viện Quốc Gia Tu Nghiệp để huấn luyện các kỹ năng mà HVQGHC không có đủ thời gian huấn luyện cho sinh viên, hay cập nhật những phương pháp quản trị mới như “Phân tích quản trị” (job analysis, job description). Chính nhờ một phần vào những cải tiến này mà người dân được phục vụ mau lẹ hơn trước nên giảm bớt sự sách nhiễu, có thể xẩy ra.

 

Thành Quả của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh :

Từ ngày thành lập cho đến năm 1975, HV QGHC đă đào tạo được:

5 khóa Tham Sự Hành Chánh (1965-1970) với 622 sinh viên tốt nghiệp ;

5 khóa Tham Sự  Cao Nguyên  và Đặc Biệt với số 189 sinh viên tốt nghiệp và 1 khóa chưa ra trường.

Hơn nửa theo tài liệu [9] :

Tham Sự Cao Nguyên: có 4 khóa (1954-1959).

Tham Sự Đặc Biệt: 1 khóa (1967).

Số sinh viên tốt nghiệp các khóa Tham Sự Hành Chánh gồm :

 Khóa 1 : 101 sinh viên tốt nghiệp năm 1966;

 Khóa 2 : 77 sinh viên tốt nghiệp năm 1967;

 Khóa 3 : 125 sinh viên tốt nghiệp năm 1968;

 Khóa 4 : 128 sinh viên tốt nghiệp năm 1969;

 Khóa 5 : 96 sinh viên tốt nghiệp năm 1970 .

20 khóa Đốc Sự với 1.630 (1650 ? tài liệu [9] ) sinh viên tốt nghiệp và 3 khóa chưa ra trường ;

8 khóa Cao Học với 299  (323? tài liệu [9] )  sinh viên tốt nghiệp và 2 khóa chưa tốt nghiệp.

Đó là chưa kể 527 sinh viên chưa kịp tốt nghiệp vào năm 1975 gồm:

50 sinh viên Tham Sự khóa Đặc biệt ;

316 sinh viên Đốc sự các khóa 20, 21 và 22;

161 sinh viên Cao Học khóa 9 và khóa 10.

 

Theo tài liệu [12] : Khóa 2 Đốc Sự  của Trường có năm nữ Đốc Sự đầu tiên tốt nghiệp  : Đó là  các cô Lư Hoa, Nguyễn Thị Tuyết, Lê Thị Nhơn, Nguyễn Thị Thuận, và trẻ nhất là Nguyễn Cẩm Vân.

 

Tóm lại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh đă đào tạo gần 2.000 nhân viên hành chánh cao cấp, trên 800 nhân viên trung cấp;  không những đủ thay thế  bộ máy hành chánh thời Pháp thuộc mà c̣n giúp phát triển nền hành chánh của quốc gia để theo kịp đà phát triển của thế giới.

Tài liệu [3]  cũng viết tương tự như trên : Hơn hai ngàn  (2000) sinh viên đă tốt nghiệp tại HVQGHC từ khoá 1 Đốc Sự Đà Lạt nhập học năm 1952 đến năm 1975.

Mặt khác,theo tài liệu [9] :  Với một quá tŕnh hiện diện dài 23 năm, HVQGHC đă đào tạo được  tổng cộng 2784 sinh viên .

 

 



Văn Bằng Tốt Nghiệp Đốc Sự, Trường Quốc Gia Hành Chánh, tiền thân là Học Viện Quốc Gia Hành Chánh - H́nh trích từ tài liệu [1] 

 

Hơn nửa,theo tài liệu [1] :    Sau khi ra trường, các sinh viên tốt nghiệp được bổ dụng đến nhiều cơ quan từ Phủ Tổng Thống, Phủ Thủ Tướng, Phủ Đặc ủy Trung ương T́nh báo, Tổng Nha Ngân sách và các Bộ, Nha ở trung ương cho đến các ty, các sở ở địa phương và Phó tỉnh trưởng hoặc Phó quận trưởng .

Những con người trẻ và đầy nhiệt huyết đó đă có mặt khắp mọi nơi trên đất nước từ các thị thành an ninh đến những quận lỵ xa xôi đầy hiểm nguy và khói lửa chiến tranh.

Những con người đó đă đảm trách hầu hết các chức vụ chỉ huy hành chánh từ trung cấp cho đến cao cấp tại các cơ quan địa phương cũng như trung ương.

Các sinh viên Ban Đốc Sự và Cao Học đă phục vụ đắc lực trong Chính Quyền từ  địa phương (Phó Tỉnh Trưởng, Phó Thị Trưởng, Phó Đô Trưởng, Phó Quận Trưởng, Đaị Diện Vùng, Trưởng Ty) đến trung ương ( Trưởng Ty, Chủ sự, Chánh Sự Vụ, Giám Đốc, Tổng Giám Đốc, Tổng Thư Kư, Đổng Lư Văn Pḥng, Viện Trưởng, Phụ Tá Bộ Trưởng , Phụ Tá  Tổng Trưởng, Bộ Trưởng, Tổng Trưởng, Thủ Tướng). Một số c̣n đảm nhận các chức vụ nồng cốt thuộc hai ngành Lập pháp (Dân Biểu, Nghị Sĩ, Chủ Tịch Hạ Viện, Giám Sát Viên)  và Tư pháp.

Cũng xin ghi thêm ,theo tài liệu [9] : Học Viện QGHC thời Đệ Nhất Cộng Hoà tuy là cơ quan “chủ quản”, nhưng không dùng quyền lực để “kết nạp đảng viên” mà giữ tính cách trung lập. Các học thuyết chính trị như Maxist, Nhân vị, Tư bản… được học nhưng không hướng dẫn sinh viên phải lựa chọn một học thuyết nào cả. Khi tốt nghiệp, các Đốc Sự được tự do gia nhập các Đoàn thể Chính trị phù hợp với sở thích và nguyện vọng của minh. Đa số Đốc Sự không theo một đảng nào cả, kể cả đảng của chính quyền.

 

Theo tài liệu [9] :

1/-Có một số cựu sinh viên HVQGHC giữ các chức vụ :

A-Tại Trung Ương :

 Thủ Tướng, Chủ Tịch Hạ Viện : Nguyễn Bá Cẩn (Đốc Sự khóa 1) ;

 Phủ Thủ Tướng, các Bộ trong Nội Các :

 Phủ Thủ Tướng-Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng : Bửu Viên (Đốc Sự khóa 1) , Nguyễn Long Châu;
(Tên xếp theo thứ tự nhận lănh chức vụ theo thời gian trước sau nhưng không nhất thiết

là kế vị, và có trường hợp là nhân lănh chức vụ cùng một lúc ) .

Bộ Nội Vụ : Tổng Trưởng : Bửu Viên (Đốc Sự khóa 1) ;

Bộ Tài Chánh : Tổng Trưởng : Châu Kim Nhân ((Đốc Sự khóa 2);

Bộ Lao Động : Tổng Trưởng : Vũ Công ;

Phụ Tá (PT) Bộ Trưởng  tại Phủ Thủ Tướng : Nguyễn Đ́nh Liễn, Triệu Huỳnh Vơ (Đốc Sự khóa 6), Trương Thới;

Phụ Tá (PT) Tổng Trưởng Bộ Tài Chánh : Cao Văn Hở; 

Phụ Tá (PT) Tổng Uỷ Công Vụ : Lê Cộng Truyền, bà Trương Hoàng Lem; 

Phụ Tá (PT) Tổng Trưởng Thương Mại và Tiếp Tế : Nguyễn Thanh Bạch ;

Phụ Tá (PT) Tổng Trưởng Bộ Quôc Pḥng : Bửu Viên, Châu Kim Nhân, Tôn Thất Chước;

Phụ Tá (PT) Tổng Trưởng Bộ Kế Hoạch : Nguyễn Duy Phước;

Phụ Tá (PT) Tổng Trưởng Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi : Triệu Huỳnh Vơ, Nguyền Quôc Thụy;

Phụ Tá (PT) Tổng Trưởng Bộ Phát Triển Sắc Tộc : Châu Văn Mỗ.

(Trong 2 Nội Các Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Bá Cẩn);

Hơn nửa theo tài liệu [7] :

Tổng Giám Đốc Công Vụ ;  Nguyễn Xuân Liêm (Đốc Sự Khóa 1);

Tổng Giám Đốc Ngân Khố : Bà Lư Hoa (Đốc Sự Khóa 2) ;

Các Thượng Nghị Sĩ : Hoàng Xuân Hào (Đốc Sự Khóa 4),  Lê Châu Lộc (Đốc Sự Khóa 13);

Các Dân Biểu: Phạm Duy Tuệ , Nguyễn Văn Quí (dân biểu nhiều nhiệm kỳ tại đơn vị Hậu Nghĩa ), Nguyễn Văn Tiết, Lê Tấn Trạng, Trương Vỹ Trí ;

Các vị Giám Sát Viên  của Viện Giám Sát :  Phạm Đ́nh Hưng, Lê Văn Thêm, Lê Đ́nh Lăm …

 

B-Địa Phương :

Tỉnh Trưởng: Nguyễn Đ́nh Xướng  Tỉnh Trưởng Vĩnh B́nh thời Đệ Nhất Cộng Hoà và ông Nguyễn Trung Thoại Tỉnh Trưởng Quảng Trị thời Đệ Nhị Cộng Hoà.

Phó Tỉnh/Thị Trưởng hành chánh (theo tài liệu [9] ) :  

Trần Huỳnh Thanh (An Xuyên, Darlac,Phong Dinh,Sa Đéc);

Nguyễn Văn Tiên (Phú Bổn, B́nh Thuận, B́nh Dương);

Trương Minh Nhuệ (Long Khánh);

Nguyễn Trọng Can (B́nh Long, Đà Lạt ) ;

Lê Văn Thêm (Chương Thiện, Kiên Giang,Định Tường) ;

Nguyễn Thành Nhơn (Biên Hoà) (làm việc một thời gian ngắn tại Phủ Đặc Uỷ và tỉnh Chương Thiện, rồi thuyên chuyển phục vụ tại tỉnh Biên Hoà từ Trưởng ty Nội An, Hành Chánh, Chánh Văn Pḥng và Phó Tỉnh Trưởng cho tới ngày 30 tháng 4-1975) ;
Trần Thanh Sử (Quảng Đức, B́nh Tuy) ;

Nguyễn Khai Sơn (Phước Long) ;

Nguyễn Ngọc Vy (Quảng Đức,Cam Ranh, Darlac) ;

Bùi Xuân Thích (B́nh Định,Qui Nhơn) ;

Nguyễn Vịnh (Chương Thiện, Phong Dinh) ;

Trần Dược Vũ (thị xă Cam Ranh) ;

Nguyễn Ngọc Vỵ (Quảng Đức ) ;

Phạm Gia Định (Kontum) ;

Quận Trưởng dân sự tại tỉnh B́nh Định :  Nguyễn Ngọc Vỵ , Trần Dược Vũ ( khóa 3), Nguyễn Ngọc Vỵ, (khóa 6) , Trần Hồng, Trương Văn Tuyên và Phạm Gia Định (cùng khóa 8).

Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao : Thái Hà Chung . (Hồi đó có 3 Phát ngôn viên: Đại tá Lâm đại diện cho bộ Quốc Pḥng, Bùi Bảo Trúc đại diện bộ Dân Vận, Thái Hà Chung đại diện bộ Ngoại Giao tổ chức họp báo tại Trung tâm Báo Chí Quốc gia trên đường Tự Do để giải thích đường lối và chính sách của Chính Phủ cho kư giả trong và ngoài nước).

C-Bên Quân Đội có 2 ngạch riêng biệt: “HIỆN DỊCH” dành cho thành phần quân nhân t́nh nguyện và “TRỪ BỊ” dành cho thành phần không t́nh nguyện, nhưng nhập ngũ theo lệnh gọi động viên / tổng động viên ) .

Tất cả các Đốc Sự đều thuộc ngạch TRỪ BỊ dù được gởi thụ huấn tại trường Vơ Bị Đà Lạt (từ khóa Đà Lạt đến khóa 5), tại trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế-Nha Trang (khóa 6,7 và 8), tại trường Vơ Khoa Thủ Đức (từ khóa 9 trở về sau).

Các Đốc Sự khi tốt nghiệp tại các quân trường đều có cấp bậc Chuẩn Uư Trừ Bị . Đa số (hơn 99%) Đốc Sự mang cấp bậc Trung Uư Trừ Bị biệt phái .Theo  tài liệu  [9] :  Cấp bậc cao nhất trong quân đội của Đốc Sự là Đại Uư (chỉ có một số ít) cho tới ngày 30-4-1975.

 

Học Viện Quốc Gia Hành Chánh đă đào luyện nên những con người Việt  Nam, phục vụ đất nước với t́nh đồng hương, nghĩa đồng bào trong ḍng sinh mệnh của dân tộc.

Tất cả họ đă đóng góp không ít cho công cuộc cải tổ và hoàn thiện guồng máy hành chánh quốc gia cũng như công cuộc chiến đối đầu với cộng sản xâm lược của Việt Nam Cộng Ḥa.

Theo tài liệu [6] :  Trong thời gian thi hành công vụ, một số công chức  xuất thân từ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh đă hy sinh v́ tổ quốc.

 

Theo tài liệu [2] :  Sau ngày mất nước 30/4/1975, Học Viện Quốc Gia Hành chánh bị ngụy quyền cộng sản tịch thu và đổi thành Học viện Hành chính Quốc gia phân viện Thành phố Hồ Chí Minh (Sic).

 

Phụ đề : Sơ lược tiểu sử giáo sư Nguyễn Văn Bông

 

Giáo sư Nguyễn Văn Bông năm 1967 -H́nh trích từ tài liệu [10] 

 

Theo tài liệu [13,14,15] : Ông  Nguyễn Văn Bông sinh ngày 2 tháng 6 năm 1929, tại làng Kiểng Phước, tổng Ḥa Lạc Hạ, Vàm Láng, bên bờ Sông Xoài Rạp, tỉnh G̣ Công. Thân sinh của ông tên là  Nguyễn Hiền Năng vốn làm nghề thợ bạc, mẹ ông là một thợ may. Hai người ly dị nhau khi ông mới lên 3, về sau đều tái giá và có con riêng. Từ nhỏ, ông Bông đă phải sống với ông bà nội.

Gia thế Nguyễn Văn Bông là vậy, trong khi đó hầu hết trí thức xứ Nam Kỳ Lục Tỉnh bấy giờ xuất thân từ gia đ́nh quyền thế. Ông Bông thường tâm sự: “ḍng họ không có ai học hành ra ǵ cả.” Vươn lên thành ông Thạc Sĩ, đâu phải ai cũng làm được như Nguyễn Văn Bông.

Từ nhỏ ông đă có chí, học giỏi, rất thông minh và ḥa nhă với mọi người nhưng nhà nghèo. V́ vậy, ông phải làm việc từ lúc mới 12 tuổi để kiếm thêm tiền đi học. Ông sửa xe đạp, quét trường học, phụ đánh máy và nhiều việc lặt vặt khác để có tiền trang trải cho việc học.

Đến năm 1945 trường trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ đóng cửa, Nguyễn Văn Bông về quê Kiểng Phước, rồi lên Sài G̣n . Thời gian ở Sài g̣n, ông Bông cư ngự trong trường Lê Bá Cang

Sau mấy năm làm việc để gom đủ số tiền mua được một vé tàu hạng ba đi Pháp, ông rời Việt Nam để thực hiện giấc mơ du học ở Paris, Pháp.

Theo tài liệu [15] : Lúc ông Bông chuẩn bị sang  Pháp du học, các người thân quen với ông Bông ở trường Lê Bá Cang  đă hết ḷng giúp đỡ cho chuyến xuất ngoại của ông.

Tại Paris, ông được một người quen cho ở trọ để tiếp tục học lấy bằng Tú Tài. Trong thời gian này, để sinh kế, ông làm bồi bàn tại tiệm ăn La Table du Madarins. Tại đây, ông làm quen với một sinh viên Việt Nam khác cũng đang làm bồi bàn tại đây là Nguyễn Ngọc Huy, người đă sát cánh cùng ông trong các hoạt động chính trị sau này.

Sau khi tốt nghiệp Tú Tài, ông theo học ngành Luật và Chính trị học, Đại học Sorbonne.

Trong thời gian du học tại Pháp, ông đă được một người cô ruột tên Nguyễn Thị Chín là một thương gia ở Sài G̣n giúp đỡ, nhưng sự giúp đỡ đó cũng quá ít ỏi so với tiền học phí mà ông phải đóng cho trường.

Để có tiền theo học, ông phải làm nhiều nghề, kể cả khuân vác, giặt ủi. Do lao lực quá độ, có thời gian ông làm phu khuân vác đêm tại Nhà Lồng Paris (Les Halles), đă bị nhiễm bệnh lao, phải nằm bệnh viện một thời gian .

Với ư chí và nỗ lực, ông tốt nghiệp Cử Nhân Luật năm 1956, rồi Tiến Sĩ Luật và Chính trị học năm 1960. Năm 1962 ông trở thành một trong số rất ít giáo sư Việt Nam có bằng Thạc Sĩ Công Pháp Quốc tế.

Theo tài liệu [16] :  Ông Nguyễn Văn Bông tốt nghiệp loại ưu cấp Cử Nhân, Thạc Sĩ và Tiến Sĩ tại trường đại học danh tiếng của Pháp Sorbonne Université, chuyên ngành công pháp và sau đó là luật học.

Đầu năm 1963, ông quyết định về nước làm việc. Trước khi về nước, ông đă hứa hôn với một nữ sinh viên có tên là Lê Thị Thu Vân, người sau này trở thành bạn đời của ông.

Theo tài liệu [14] : Những ai may mắn gần gũi với  ông Nguyễn Văn Bông chắc c̣n nhớ lúc mới về Sài G̣n, c̣n ở tạm tại một khách sạn nhỏ trên đường Kỳ Đồng, ông thạc sĩ độc thân, đẹp trai hồn nhiên mặc chiếc áo thun rách 3 lỗ ra tiếp đón bà con bạn bè đến mừng! Nguyễn Văn Bông mộc mạc, thiệt thà, đơn giản, là con người “trước sao, sau vậy”.

 

Sau khi về nước, ông dạy môn Luật Hiến Pháp và Khoa Học ChínhTrị tại  trường Đại Học Luật Sài g̣n.

Theo tài liệu [15] :  : Sau ngày giáo sư  Bông về dạy tại trường Luật, Sàig̣n, từ 1963 trở đi, các sinh viên ban Công Pháp đă xem ông như là vị giáo sư cứu tinh của họ, bởi lẽ ông đă giải tỏa được sự tắt nghẽn, hay nói nôm na là hiện tuợng nút chặn trên con đường tŕnh luận án Tiến Sĩ Công Pháp. Thật vậy, trước đó số người học tiếp và được cấp bằng Tiến Sĩ Công Pháp gần như có tính cách nhỏ giọt, v́ sinh viên đă gặp quá nhiều trở ngại đến nản ḷng trong việc đi t́m ra người chịu nhận làm giáo sư bảo trợ để làm luận án Tiến sĩ Công Pháp. Lúc bấy giờ người có thẩm quyền cao nhất bên Công Pháp là giáo sư  Vũ Quốc Thông. Đến khi giáo sư  Bông về dạy tại đây, gần như năm nào cũng đều có người tŕnh luận án và đỗ bằng Tiến Sĩ Công Pháp. Lư do chính là do giáo sư  Bông đă thay thế giáo sư  Thông trong cương vị đó.

 

Giáo sư  Nguyễn Văn Bông (phía trước), giáo sư  Nguyễn Văn Tương, (bên phải) và giáo sư  Tạ Văn Tài đến trao bằng Tiến Sĩ cho một sinh viên Trường Luật – H́nh trích từ tài liệu [15,16] :

 

Các sinh viên có dịp học với  giáo sư  Bông ở các lớp Cao  Học Luật  cho biết thêm là có nghe, giáo sư   Bông giảng bài bằng tiếng Pháp th́ càng thấy thán phục hơn nữa truớc lối tŕnh bày quá lưu loát và sự “ngọt lịm” trong lời văn của ông.

Theo tài liệu [17] : Từ  năm 1966 đến năm 1971 , ông Bông làm Phó Khoa Trưởng trường Đại Học Luật Khoa, Sàig̣n.

Theo tài liệu [14] :  Ông Nguyễn Văn Bông từ Pháp về nước lúc t́nh h́nh chánh trị ở miền Nam Việt Nam đang trong thời kỳ xáo trộn : 18 trí thức nhóm Tự Do Tiến Bộ bị đàn áp do bởi ngày 26 Tháng 4 năm 1960 nhóm này cho phổ biến tuyên ngôn yêu cầu chánh phủ cải tổ ; Chính quyền Đệ Nhất Cộng Ḥa của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm  ra tay đàn áp các lực lượng chống đối, bắt giam các chính khách đối lập như Nhóm Caravelle, Nguyễn Tường Tam... Phật Giáo chống lại chánh sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm lên cao điểm với vụ tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức tại ngă tư Lê Văn Duyệt - Phan Đ́nh Phùng lúc 11 giữa trưa ngày 11 Tháng Sáu năm 1963...

Ông Nguyễn Văn Bông dầu được chánh quyền mời về, nhưng ông không e dè đăng đàn thuyết tŕnh đề tài “Đối lập chánh trị trong chế độ dân chủ” (Quyền Đối Lập Chính Trị  theo tài liệu [15]) ngày 01 tháng 8 năm 1963, nhân buổi lễ khai giảng đầu niên học ở trường Luật Sài G̣n, trước cử tọa gồm viện trưởng, khoa trưởng, giáo sư cùng hàng ngàn sinh viên.

Không kể nội dung bài thuyết tŕnh, thái độ của người thầy Nguyễn Văn Bông đă làm cho sinh viên cùng đồng sự của ông nể trọng, kính phục.

Đây là một đề tài mới mẽ, chưa  ai chính thức và công khai đề cập. Có thể nói, giáo sư Bông là người đầu tiên đă phát động và kêu gọi sự thực thi một chế độ dân chủ với sự cho phép h́nh thành các lực lượng đối lập chính trị, hoạt động tư do và công khai.

Bài diễn văn khai giảng này  của giáo sư Bông được đăng trong Luật Học Tập San và sau này trong quyển Luật Hiến Pháp do ông biên soạn. Những ai có dịp đọc qua bài này đều phải khâm phục về nội dung sâu sắc, phong phú của bài viết, với sự trích dẫn các điển tích dí dơm, lời văn trau chuốt đến độ không thể thêm hoặc bớt một chữ nào trong câu văn của ông.

Tên tuổi của ông trở nên sáng chói trên chính trường sau khi ông đọc bài diễn văn ‘’ Quyền Đối Lập Chính Trị ‘’ .

Sau cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông Bông được được bổ nhiệm làm Viện trưởng  HVQGHC thay thế  giáo sư  Vũ Quốc Thông .

Theo tài liệu [14] : Làm Viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, nơi đào tạo những con người lănh đạo đất nước, những ông quận trường, tỉnh trưởng, công chức cao cấp... nhưng  ông Nguyễn Văn Bông không coi ḿnh là quan chức. Ông trước sau chỉ là người thầy, người anh, người bạn với mọi người kể cả học tṛ của ông.. Rất nhiều sinh viên do ông đào tạo về sau nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa.

Ngoài chức vụ Viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh,ông  c̣n đảm nhận các chức vụ  như sau :  Cố vấn cho Tối Cao Pháp Viện, Ủy viên Hội Đồng Quản Trị Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam.

 

Đầu năm 1964, ông thành hôn với bà Thu Vân, người sinh viên đă rời bỏ nước Pháp để về thành hôn với ông, dù ông "chỉ là một giáo sư nghèo" hơn bà đến mười tuổi.

 

Ông bà giáo sư Nguyễn Văn Bông và các con – Sàig̣n 1964 – H́nh trích từ tài liệu [16] 

 

Theo tài liệu [14] : Tới lúc này ông Viện Trưởng Nguyễn Văn Bông vẫn thường về quê, t́m món khô “hắc cấy”, món ngon đặc sản Vàm Láng của ông. Nghe ông thích thú kể chuyện con hắc cấy, chuyện làm gỏi da cá đuối mà tưởng chừng đang nói chuyện với lăo nông, hay người đánh cá.

Thep tài liệu [15] :  Ông  Bông là một người trí thức khoa bảng,  một cấp lănh đạo trẻ trung có tính t́nh rất xuề x̣a b́nh dị, và rất cởi mở. Chính những đức tính nầy giúp ông chinh phục được sự cảm mến và quí trọng của bất cứ ai có dịp tiếp xúc hay gặp gỡ ông ngay lúc sơ giao.

Theo tài liệu [14] : Cung cách Nguyễn Văn Bông đă thâu hút mọi người và làm mọi người đến với ông. Rồi ông được mời hoạt động, làm chánh trị, bởi anh em thấy ở ông cái đức độ của con người lănh tụ thật sư, có tấm ḷng, có cái Tâm. Ông làm chánh trị như nhà tu hành thiền.

Từ đây, ông bắt đầu có những hoạt động chính trị nhằm tiến tới việc "thành lập một chính đảng quốc gia" trên con đường xây dựng "một nước Việt Nam thống nhất, dân chủ với sự ủng hộ rộng răi của người dân".

Thep tài liệu [15] : Có thể nói, giáo sư Bông là người đầu tiên đă phát động và kêu gọi sự thực thi một chế độ dân chủ với sự cho phép h́nh thành các lực lượng đối lập chính trị, hoạt động tư do và công khai. Cũng chính v́ sự tha thiết với chủ trương đó, cuối năm 1968,  ông cùng người bạn cũ giáo sư Nguyễn Ngọc Huy (bấy giờ là một trong những lănh đạo của đảng Tân Đại Việt ) đă thành lập Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến ( PTQGCT)  (Progressive National Movement), một lực lượng chính trị đối lập với với chính phủ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, với thành viên đa số là học tṛ của ông.

Theo tài liệu [16] :  Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến được  sự hậu thuẫn chính trị đông đảo từ sinh viên, công chức và giới trí thức miền Nam Việt Nam.

Có nhiều tranh căi về quan điểm chính trị của phong trào này, song tính độc lập của phong trào được thể hiện rơ.

Một số ghi nhận ngắn như của New York Times th́ cho rằng PTQGCT  ủng hộ chính phủ đương quyền của Nguyễn Văn Thiệu, nh́n chung có thể v́ Nguyễn Văn Bông có thái độ chính trị chống Cộng khá rơ ràng.

Theo một số tài liệu khác, như trong “ Di cảo cố Giáo sư Nguyễn Văn Bông ”, đường lối mà ông Bông đặt ra là gầy dựng một chính quyền nhân dân phổ quát và dân chủ, hạn chế và từ từ đi đến triệt tiêu chính quyền quân quản đang tồn tại ở miền Nam Việt Nam.  Vậy nên cũng có thể xếp PTQGCT vào nhóm đối lập.

Thep tài liệu [15] : : Vào các năm sau đó, với sự lớn mạnh của PTQGCT mà giáo sư Bông là Chủ Tịch của Chủ tịch Đoàn, có  nhật báo Cấp Tiến làm cơ quan ngôn luận của Phong trào, chính giáo sư  Bông trong các bài viết đăng trên mục lập trựng hay quan điểm, luôn kêu gọi dân sự hóa guồng máy công quyền, nhất là ở cấp đô ( thành? ), tỉnh (lỵ?), thị (xă?), trong thực tế, đă và đang bị cấp lănh đạo đương thời quân sự hóa với lư do v́ an ninh và nhu cầu b́nh định v.v…

Đây là một chủ trương lớn thứ nh́ sau lần ông kêu gọi việc chấp nhận quyền đối lập chính trị khi ông mới về phục vụ đất nước. Chủ trương dân sự hóa guồng máy hành chánh của ông có gây được tiếng vang, nhưng không thuyết phục được cấp lănh đạo, các quân nhân vẫn tiếp tục giữ vai tṛ quan trọng ở cấp đô thị, các quận và đặc khu cho tới ngày 30/4/75.

Đóng góp lớn nhất của ông,  với sự cộng tác của giáo  sư Nguyễn Ngọc  Huy là đă h́nh thành và phát triển được thưc sự một lực lượng đối lập chính trị, PTQGCT, đă đi vào sinh hoạt chính thức trong chính trường lúc bấy giờ với sự hiện diện của các dân biểu Khối Cấp Tiến trong Quốc Hội, được đánh giá là đối lập thực sự chứ không phải là đối lập theo kiểu “lom khom”. Đa số các vị dân biểu thuộc khối Cấp Tiến đều tốt nghiệp hoặc trường Luật hoặc trường Quốc Gia Hành Chánh như các ông Trần Minh Nhật (trường Luật), Trương Vi Trí, Nguyễn Văn Quí, Nguyễn Văn Tiết (trường Quốc Gia Hành Chánh) v.v…

Theo tài liệu [17] : Từ năm 1968 đến năm 1971:  Ông  Bông làm Chủ Nhiệm  nhật báo Cấp Tiến và Nguyệt San Cấp Tiến.

Theo tài liệu [16] : Dù không trực tiếp tham gia tranh cử năm 1968 -1969, PTQGCT  phát triển mạnh mẽ và trở thành một thế lực chính trị đáng nể (quan trọng ?). Đây là lần đầu tiên một phe nhóm chính trị gây được ảnh hưởng tại miền Nam Việt Nam mà không lệ thuộc quá nhiều vào tôn giáo, vùng miền hay là di sản kế thừa từ các chính đảng già cỗi từ thời kháng Pháp.

Thành công của PTQGCT  khiến sau đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mời  ộng Nguyễn Văn Bông làm Thủ Tướng cho nội các mới. Tại thời điểm này, sau khi thực hiện thành công chính sách “Người cày có ruộng”, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đang mong muốn mở rộng nền tảng hậu thuẫn và tính chính danh cho chính quyền mới, dần dần dân sự hóa và ổn định môi trường chính trị Việt Nam Cộng ḥa.

Theo tài liệu [17] : Ngày 09 tháng 11 năm 1971, giáo sư Bông chấp nhận chức vụ Thủ Tướng dưới thời Đệ Nhị Cộng Ḥa.

 

Ba lần bị mưu sát

Theo tài liệu [15]  : Do bởi uy tín và thanh thế của giáo sư Bông ngày một lên cao, với sự lớn mạnh của PTQGCT  lúc bấy giờ, có lẽ v́ thế mà sự an toàn của ông đă bị đe dọa nhiều lần.

Theo tài liệu [13]   : Những hoạt động chính trị tích cực của ông khiến ông trở thành mục tiêu ám sát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ( việt cộng - Sic) .

Hơn nửa theo tài liệu [16] :  Do sự kiện  ông Bông  chấp nhận chức Thủ Tướng trong nội các  của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, bọn việt cộng  đă phải tổ chức ám sát ông vào cuối năm 1971

 Lần thứ nhất (theo tài liệu [15] ) :   Khoảng vài tháng sau cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân đợt hai ở Sài G̣n phát động bởi bọn việt cộng, vào ngày 26 tháng 11 năm 1968 ,kẻ địch, lợi dụng cửa pḥng họp Hội Đồng Giáo Sư trong Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, sát vách pḥng làm việc của Viện Trưởng, không có khóa, đă lén đặt chất nổ trong  pḥng nầy,  cố ư sát hại giáo sư  Bông ở pḥng kế bên. Nhưng ông chỉ bị xây xát nhẹ, mà không bị thương tích trầm trọng.

Lần thứ nh́ (theo tài liệu [15] ) :   Vào năm 1970, tại công ốc của giáo sư  Bông trên đường Phan Thanh Giản, nằm đối diện trường Nữ Trung học Gia Long, có một đêm cả nhà bị xông thuốc mê, tất cả đồ đạc trong pḥng làm việc của giáo sư  Bông ở trên lầu đều bị lục soát vất tung toé, nhưng mọi ngựi ngủ trên lầu đều vô sự.

Lần thứ ba (theo tài liệu [13,15] )  :  Vào ngày 10 tháng 11 năm 1971, trên đường từ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh ở đường Trần Quốc Toản về nhà ở đường Phan Thanh Giản, khi xe của ông đang ngừng tại đèn đỏ  ngă tư Cao Thắng - Phan Thanh Giản vào khoảng 12 giờ trưa, bọn khủng bố việt công tổ trinh sát vũ trang Ban An ninh T4 , đă ném cái cặp chứa 4 kí lô chất nổ C4 được liên kết với ba trái lựu đạn xuống gầm xe của ông .Giáo sư Bông thiệt mạng cùng các cận vệ của ông.Lúc đó ông mới 42 tuổi.

 

Hiện trường vụ ám sát Giáo sư Nguyễn Văn Bông - H́nh trích từ tài liệu [18]  

 

Theo tài liệu [17] : Mất vị giáo sư Bông, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và trường  Đại Học Luật  Khoa Sài g̣n mất đi một vị giáo sư ưu tú, một người thầy tận tụy, một ân sư của lớp sinh viên trong giai đoạn này. Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến cũng mất đi một lănh tụ quan trọng, thu phục cảm t́nh quần chúng,  được giới  thanh thiếu niên cùng giới trí thức trẻ tâm phục. Miền Nam mất đi một chính khách có uy tín trên chính trường quốc nội và quốc tế để xây dựng một Miền Nam Độc Lập - Tự Do - Tiến Bộ.

Theo tài liệu [14] : Ông Nguyễn Văn Bông ra đi, nói theo tạp chí Newsweek bấy giờ ,giới luật pháp quốc tế mất đi một nhơn tài, lịch sử Việt Nam đi vào khúc quanh.

Theo tài liệu [13] : Sự kiện ông Nguyễn Văn Bông bị ám sát không chỉ làm sụp đổ kế hoạch thay đổi nhân sự của Việt Nam Cộng Ḥa mà c̣n làm cho nội bộ chính quyền này nghi ngờ lẫn nhau.

Theo tài liệu [16] : Một số tác phẩm mà giáo sư Nguyễn Văn Bông để lại có thể kể đến tham luận “ Đảng Phái và Đối Lập Chính Trị ”, và đặc biệt nhất là quyển “ Luật Hiến Pháp và Chính Trị Học ” ,sách gối đầu giường một thời của sinh viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, hiện đă được trang Pro&Contra của nhà văn Phạm Thị Hoài số hóa .

 

Tài liệu tham khảo :

1.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975 .

2.     https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_vi%E1%BB%87n_Qu%E1%BB%91c_gia_H%C3%A0nh_ch%C3%A1nh Học Viện Quốc Gia Hành Chánh .

3.     https://vnxuavanay.wordpress.com/tag/tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-qu%E1%BB%91c-gia-hanh-chanh/ Trường Quốc Gia Hành Chánh-Học Viện Hành Chính .

4.     GS. Huỳnh Công Ân- Các trưởng đại học ở miền Nam trước 1975 (Phần 1) .

5.     https://quocgiahanhchanhmd.com/hoc-vien-quoc-gia-hanh-chanh-2/ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh- GS Cao Thị Lễ (Căn cứ theo Kỷ Yếu Quốc Gia Hành Chánh 1952-1975  và Biên Khảo Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Sàigon ) .

6.     http://batkhuat.net/tl-hocvien-qghc.htm Học Viện Quốc Gia Hành Chánh - Trần Xuân Thời .

7.     https://viendongonline.com/article/ky-niem-60-nam-thanh-lap-hoc-vien-quoc-gia-hanh-chanh-wH0zGien.html Kỷ niệm 60 năm thành lập Học Viện Quốc Gia Hành Chánh - Bài Thanh Phong - 21/08/2015 .

8.     https://vietnamesecommunity.wordpress.com/2020/07/10/hoc-vien-quoc-gia-hanh-chanh-thoi-viet-nam-cong-hoa/ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh thời Việt Nam Cộng ḥa - Bởi vietnamesecommunity - 10/07/2020 .

9.     https://phamtinanninh.com/?p=7023 Vài Nét Về Khóa 6 Đốc Sự Quốc Gia Hành Chánh – Nguyễn Đắc Điều - Phạm Tín An Ninh- May 26, 2023 .  

10.  https://tinhomnay1.blogspot.com/2015/08/oi-dong-ve-hoc-vien-quoc-gia-hanh-chanh.html Đôi ḍng về Học Viện Quốc Gia Hành Chánh VNCH - T/g Sương Lam - August 22, 2015.

11.  https://quocgiahanhchanhmd.com/2024/09/26/vai-net-ve-con-nguoi-cua-giao-su-nguyen-van-bong/ Vài Nét Về Con Người Của Giáo Sư Nguyễn Văn Bông - Triệu Huỳnh Vơ- Posted on September 26, 2024 .

12.  https://qghc.wordpress.com/2024/03/31/nam-co-doc-su-dau-tien-cua-truong-quoc-gia-hanh-chanh/ Năm Cô Đốc Sự Đầu Tiên Của Trường Quốc Gia Hành Chánh - Trần Ngọc Tôn Khóa Đốc Sự 2 -Posted on March 31, 2024 by Ha Nhan .

13.  https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_B%C3%B4ng Nguyễn Văn Bông .

14.  http://www.hocxa.com/VanHoc/TacGia/NguyenVanBong-TaiNangDucDoVaBiKich_TranVanChi.php  Văn Học - Giáo Sư Nguyễn Văn Bông - Tài năng, đức độ và bi kịch -   Trần Văn Chí – 23/8/2024 .

15.  https://quocgiahanhchanhmd.com/2024/09/26/vai-net-ve-con-nguoi-cua-giao-su-nguyen-van-bong/ Vài Nét Về Con Người Của Giáo Sư Nguyễn Văn Bông - Triệu Huỳnh Vơ- Posted on September 26, 2024 .

16.  https://luatkhoa.com/2020/04/4-nhan-vat-dan-su-xuat-sac-cua-viet-nam-cong-hoa-co-the-ban-chua-biet/ 4 nhân vật dân sự xuất sắc của Việt Nam Cộng Ḥa có thể bạn chưa biết - Vơ Văn Quản - 18/04/2020 - Bài viết này nằm trong số báo tháng Tư năm 2022 của Luật Khoa tạp chí, được phát hành trên ấn bản PDF ngày 26/4/2022 .

17.  https://quocgiahanhchanhmd.com/2021/11/06/tuong-niem-giao-su-vien-truong-nguyen-van-bong-50-nam-nhin-lai-1971-2021 /Tưởng Niệm Giáo Sư Viện Trưởng Nguyễn Văn Bông – 50 Năm Nh́n Lại (1971-2021) -Posted on November 6, 2021 - Hội CSV QGHC Miền Đông Hoa Kỳ .

18.  https://www.voatiengviet.com/a/nguyen-van-bong-viet-nam-cong-hoa-ky-cuoi/5180194.html Vụ ám sát GS Nguyễn Văn Bông: Cái kết được báo trước của VNCH (kỳ cuối) - Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ .

 

 

 

08- Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ  - Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n

 

TM xin trân trọng  đề tặng bài này tới các đồng môn lớp đệ nhất 5 niên khóa 1971 trường Trung Học Kỹ Thuật Cao Thắng Sàig̣n, đăc biệt là hai bạn hiền đă buông cái Compas và cây thước Tê (T) để đeo  cái ống chẩn bịnh Stéthoscope nặng nề trách nhiệm :

Trương Quyên :  Bác sĩ toàn khoa tốt nghiệp ờ Cộng Ḥa Liên Bang Đức ;

Bạch Quang Minh :  Hai (2) văn bằng Tiến sĩ : Tiến sĩ kỹ sư và tiếp theo đó Bác sĩ chuyên khoa Tai, Mũi, Họng, tốt nghiệp ờ Cộng Ḥa Liên Bang Đức.

 

Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ được mở ra vào năm 1956 và được  chính thức hóa  vào năm 1957,  trực thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật - Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Ḥa. Trường  nằm trong khuôn viên  của Trung Tâm này ở khu Phú Thọ , đường Nguyễn Văn Thoại và  đường Tô Hiến Thành,thuộc phường Nguyễn Tri  Phương,Quận 10-Sàig̣n.

Sau đây là sơ lược thành lập Trường Kỹ Sư Công Nghệ  theo tài liệu [1,2,3,4] :

Theo tài liệu [1] : Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ (KSCN) được thành lập vào năm 1956, dựa theo chương tŕnh của trường École Nationale D’Ingénieurs Des Arts Et Métiers (ENIAM) của Pháp. Hiện nay tên mới của Trường ENIAM  là École Nationale Supérieure D’Arts Et Métiers (ENSAM).

Theo tra cứư về các trường kỹ sư của Pháp, hiện nay Pháp có 7 hay 8  ENSAM kể luôn ENSAM tại Paris.  Đây là những trường rất có uy tín, thuộc vào loại Grandes Écoles của Pháp. Tuy nhiên, người Pháp mà đại diện là Mission Culturelle Pháp ở Sài g̣n (vào thời điểm  thai nghén thành lập trường KSCN), không muốn chúng ta (Việt Nam)  dùng cùng một tên trường với họ.   Dịch ra Pháp văn th́ tên trường KSCN là École Nationale D’Ingénieurs D’ Arts Industriels (ENIAI).

Việt Nam ta phải ghi tên Trường có kèm theo chữ Kỹ Sư (Ingénieur) cho chắc ăn,  chớ nếu chỉ để tên là Trường Cao Đẳng…. (École Supérieure…) th́ cũng giống như Cao  Đẳng Sư Phạm, Cao Đẳng Mỹ Thuật …, rồi rủi ra Trường KSCC không phát bằng Kỹ Sư .

Tôi (tác giả tài liệu [1] )  c̣n nhớ buổi họp đầu tiên giửa Ban Giám Đốc, sinh viên và ông Joris (có thể viết sai) đại diện Cơ Quan Văn Hóa Pháp.  Một sinh viên đă đăt câu hỏi là sau khi tốt nghiệp, liệu sinh viên KSCN có được xem tương đương với Ingeniéur AM (Arts Et Métiers) của Pháp không, để tiếp tuc học thêm các Đại Học bên Pháp.  Một cách tế nhị, Ông Joris, một Inspecteur của Enseignement Technique ở Pháp, đă trả lời là ông chưa thể nói được.  Có lẻ cũng ngoài thẩm quyền của ổng.

Cho năm 1956, miền Nam Việt Nam chưa có một trường Kỹ Sư nào có chương tŕnh đào tạo 4 năm giống như phần đông ở các nước khác.  Trường Kỹ Sư Công Chánh có đào tạo “ Kỹ Sư ba năm”, Trường Điện chỉ có chương tŕnh Cán Sự, Trường Hóa Học chưa có.  V́ vậy khi có thông báo tuyển sinh viên vô KSCN, số thí sinh tương đối khá đông so với cac ngành khác của Đai Học Việt Nam lúc bấy giờ.

Vào thời điểm này, ảnh hưởng Pháp c̣n rất mạnh ở Việt Nam .Theo giáo sư Hoàng (không nhớ họ), khi Pháp đề nghị giúp mở một trường Kỹ Sư  th́ phía VN xin trường Arts Et Métiers (AM) v́ nghĩ rằng Kỹ sư AM khá uyển chuyển, có thể làm việc ở nhiều lảnh vực  khác nhau. Hiện nay KSCN có mặt ở hầu hết các ngành nghề Việt Nam và cả khi ra ngoại quốc, người KSCN cũng thich ứng nhanh chóng với với các nghề cũ mới. 

Nghe nói giáo sư  Hoàng, giáo sư  Triêm , hai kỹ sư  Công Nghệ tốt nghiệp ở Pháp, là hai vị có nhiều công thuyết phục Pháp, Việt trong viêc mở Trường KSCN Việt Nam.  Hai vị giáo sư nầy cũng có công trong việc mở chương tŕnh Tú Tài Kỷ Thuật .   Sau khi Trường được mở một năm th́ tôi (tác giả tài liệu [1]  ) không c̣n nghe nói ǵ về hai vị giáo sư này nửa, có lẻ họ là công chức Pháp và đă về Pháp.

(Phụ chú : Nhờ hai vị  giáo sư  Hoàng, giáo sư  Triêm mà TM cùng hàng ngàn học sinh khác được theo học chương tŕnh Tú Tài Kỹ Thuật Toán. So với chương tŕnh phổ thông Tú Tài Ban B (Toán), chương tŕnh Tú Tài Kỹ Thuật Toán không thua kém chút nào, chỉ thiếu có môn Vạn Vật và môn Sinh Ngử hai (sinh ngử phụ) , tuy nhiên học sinh kỷ thuật để có thể thi bằng Tú Tài Ban B, đă  học thêm hai môn này ở ngoài trường tư ).

Thầy Giám Đốc đầu tiên trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ là Kỹ sư  Trần Văn Bạch .

Theo tài liệu [2] : Ông Trần Văn Bạch  tốt nghiệp kỹ sư  khóa 1935 của École National des Ponts et Chaussées de Paris ( Kiều Lộ) .

Ông  được mời làm Tổng Trưởng Công Chánh và Giao Thông Vận Tải trong nội các ngày 6 tháng 7 năm 1954 của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm.

Vì sự quan tâm đặc biệt về tình trạng Giáo dục Kỹ Thuật  thực tế ở Miền Nam, ông rời bỏ chức vụ Tổng Trưởng Công Chánh và Giao Thông Vận Tải để đãm nhiệm chức vụ Giám Đôc Nha Kỹ Thuật Học Vụ, tiền thân của Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ.

Theo tài liệu [5,6] : Ông kỹ sư Bạch là sáng lập viên và kiêm chức giám đốc Trường Việt Nam Hàng Hải. Ông  vừa làm Giám Đốc  vừa làm Giáo sư Tóan cho ban Chỉ Huy (Pont).

Ông Bạch không những là Giám Đốc trường Cao Đẳng Kỹ Sư Công Nghệ và trường Việt Nam Hàng Hải  , ông còn là giáo sư thỉnh giảng của trường Đại học Khoa Học, trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc…

Ông  cũng là người đóng góp vào việc thành lập trường Quốc Gia Thương Mại (École Nationale De Commerce de Saigon) vào năm 1956. Trường này được  dọn về khuôn viên Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ năm 1965 .

Hầu hết các sinh viên ngành Khoa học, Kỹ thuật đều là học trò của ông. Kỹ sư Trần Văn Bạch, một nhà giáo dục tận tâm,đã đóng góp to lớn cho nền giáo dục miền Nam.

Theo tài liệu [2] : Ông là một người rất nhân từ, khiêm tốn.Ông cho nhiều học sinh nghèo ở tỉnh theo học trường chuyên nghiệp tại Sàig̣n, được phép vào trú ngụ trong mấy cái xưởng không dùng đến.

Một cựu học sinh tác già tài liệu [7] viết  như sau : ‘’ Năm 1956, tôi vào học lớp Đệ Thất trường Kỹ Thuật Phan Đ́nh Phùng, chi nhánh của Kỹ Thuật Cao Thắng. Qua năm 1957,

tôi được ông Giám Đốc Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ, Kỹ sư Cầu cống Trần Văn Bạch cho tôi và một số học sinh khác tạm trú trong khuôn viên của Nha ’’.

Ông người miền Nam, rất b́nh dị ,sinh năm 1910, mất năm 1975.

Theo tài liệu [1] : Trường KSCN năm đầu tiên tọa lạc tạm ở cuối đường Phan Đ́nh Phùng, chung với Nha Kỹ Thuật Học Vụ, gần như đâu mặt với Đài Phát Thanh Sài g̣n .

Theo tài liệu [7]: Lúc đó  Nha Kỹ Thuật Học Vụ gồm có Trung Học Kỹ Thuật Phan Đ́nh Phùng gồm 5 lớp học nằm dăi lớp sát đường Phạm Đăng Hưng, một lớp Kỹ Sư Công Nghệ đầu tiên của Việt Nam, nằm cuối dăi lớp .

Sinh viên ở vùng Chợ Lớn, mỗi ngày đi học sẽ có dịp chạy xe gắn máy qua ngang Trường Gia Long, Trường Marie Curie, chưa tới giờ học th́ ngồi ở góc đường  Phan Đ́nh Phùng và đường Phạm Đăng Hưng nh́n vài cô Trưng Vương tha thướt trong áo dài tím hay trắng qua ngang.  Có những hôm học trể tới sáu bảy giờ chiều, sinh viên c̣n có dịp xem và nghe mấy cô Trường Quốc Gia Âm Nhạc học đờn, v́ đây cũng là trụ sở tạm của trường nầy .  Học  đàn Piano phần nhiều là các cô Marie Curie .

Theo tài liệu [7] : Trường Quốc Gia Âm Nhạc do nhạc sĩ Nguyễn Phụng làm Giám Đốc, sinh viên kỹ  sư lớp Kỹ Sư Công Nghệ và học sinh Trung Học Kỹ Thuật Phan Đ́nh Phùng học ban ngày, sinh viên Quốc Gia Âm Nhạc học ban đêm.

Theo tài liệu [4] : Chương tŕnh học ban đầu của trường  KSCN Việt Nam lúc đầu dựa theo chương tŕnh của trường École Nationale D’Ingénieurs Des Arts Et Métiers (ENIAM) của Pháp (hay ENSAM), sau đó hiệu chỉnh hoàn thiện dần.

Sau đó Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ (KSCN) được thành lập chính thức theo Nghị định số 114-GD ngày 22/03/1957 và tổ chức theo Nghị định số 374-GD ngày 23 tháng 03 năm 1957. Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ chỉ đào tạo Kỹ sư 4 năm, không có ban cán sự.

Theo tài liệu [1] : Bắt đầu năm thứ Hai (1957 ?) , trường KSCN dời về Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ do Mỹ viện trợ xây cất, và ở luôn tại đây cho tới ngày hôm nay (1975? ).  Tôi (tác gỉ tài liệu[1]  )  c̣n nhớ, khi Trường dời đi, Thầy Bạch lúc bấy giờ h́nh như không c̣n giữ chức vụ ǵ nửa, có kể lại: "Qua nói cho mấy em nghe, người ta dời trường KSCN về đây (Phú Thọ) , Qua thấy không có lợi, v́ nếu cứ để riêng KSCN th́ Pháp sẽ t́m một vị trí  khác cho Trường.  Pháp không thích Mỹ .  Như vậy, ḿnh sẽ có 2 Trung Tâm Kỹ Thuật, họ tranh đua với nhau th́ ḿnh có lợi hơn ‘’.

Theo tài liệu [4] : Trong thời gian mới thành lập, từ khóa KSCN1 đến KSCN3, sinh viên phải đi học và thực tập nhờ ở trường và công ty như: Kỹ thuật Cao Thắng, Thực nghiệp, Hỏa xa, Caric, Ba Son, Asam…

(Phụ chú : Caric là hăng sửa và đóng tàu của người Pháp, nằm bên Thủ Thiêm,quận 9.

Ba Son là Hải Quân Công Xưởng nằm ở  cuối Bến Bạch Đằng,quận 1. Asam là hảng làm đồ sắt, sau là tên là Hảng Sáo Công Ty (?) nằm  trên đường Nguyễn Hửu Cảnh (Xóm Chùa), quận 1)

Năm 1957, giáo sư Văn Đ́nh Vinh là người tham gia đặt viên đá đầu tiên xây dựng Xưởng Công nghệ (nay gọi là Xưởng C1). Toàn bộ thiết bị xưởng do Pháp tài trợ và từ năm học 1962-1963 đă đưa máy móc và thiết bị từ Pháp về bắt đầu lắp đặt vào Xưởng Công nghệ.

Theo Sắc lệnh số 213-GD ngày 29/6/1957, Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ ) -quận 10 - Sài g̣n) được thành lập.

Và sau đó theo Công lệnh 1080 GD-CL ngày 07/08/1958, Trung Tâm Quốc Gia Kỹ thuật ( Phú Thọ )  gồm bốn trường thành viên là Cao Đẳng Công Chánh,  Hàng Hải, Cao Đẳng Công Nghệ  và Cao Đẳng Điện . Khi đó trường Quốc Gia Kỹ sư Công Nghệ được chuyển đến ṭa nhà B4. Năm 1962, Trường Cao Đẳng Hóa Học được thành lập và cũng thuộc Trung tâm Quốc Gia Kỹ thuật.

Theo tài liệu [1] : Sau Thầy Bạch, giám đốc thứ hai là Thầy Văn Đ́nh Vinh, Kỹ Sư Arts Et Métiers và Kỹ Sư Điên ở Pháp.  Thầy Văn Đ́nh Vinh c̣n là giám đốc Hỏa Xa bấy giờ. Trông Thầy rất bận rộn, nhưng Thầy cũng lo đầy đủ cho trường KSCN, cả những việc không trong học vấn, như có lần Thầy cho lấy chiếc xe Bus rất đẹp và tài xế của Sở Hỏa Xa để chở sinh viên năm thứ I và II đi Nha Trang chơi mùa Hè năm1958.  Chuyến đi nầy, Thầy Vinh c̣n nhờ ông Chính (sau là thầy dạy Xưởng cho mấy khóa KSCN sau) đi trông coi sinh viên và liên lạc với Sở Hỏa Xa Nha Trang cho sinh viên có chỗ ở.  Năm sau, 1959, Thầy lại cho giấy xe lửa miển phí đi Huế để sinh viên tự tổ chức du ngoạn.  Đó là 2 mùa Hè mà một số sinh viên chắc không bao giờ quên, tính đến ngày hôm nay th́ đă 45 năm qua.

Theo tài liệu [2] : Muốn vào học trường KSCN, thí sinh phải có bằng Tú Tài  ban A (Vạn Vật)  hay  ban B (Toán) hay Tú Tài Kỹ Thuật Toán và qua một cuộc thi tuyển khó khăn, chật vật .  Môn thi g̣m có Toán, Lư và Hóa. Riêng thí sinh kỹ thuật phải thi thêm môn Kỹ Nghệ Họa .Sau 4 năm tốt nghiệp sẻ được cấp băng Kỹ Sư Công Nghệ. Trường đào tạo các kỹ sư công nghệ các ngành cơ khí, kỹ nghệ sắt, luyện kim, xe hơi ô tô…

Theo tài liệu [4] : Trong  chương tŕnh  học Kỹ sư Công Nghệ, ngoài phần lư thuyết, sinh  viên c̣n phải thực hành nhiều giờ  ở các xưởng và pḥng thí nghiệm (PTN) như: Xưởng nguội - Máy dụng cụ, Xưởng g̣ hàn, Xưởng mộc mẫu, Xưởng Đúc- Luyện kim, Xưởng Động cơ xe hơi và Máy phát điện, Xưởng Nhiệt động lực học (Nhiệt lạnh)…. Các PTN như: PTN Cấu trúc kim loại, PTN Đo lường, PTN Vẽ thiết kế, PTN Sức bền vật liệu, Cân bằng động, PTN Nhiệt luyện…. Thời gian thực tập nhiều nhất là ở Xưởng nguội - Máy dụng cụ. Sinh viên học mỗi tuần 3 buổi trong 2 năm đầu thuộc chương tŕnh Kỹ sư Công nghệ 4 năm.

Bên trong ṭa nhà xưởng Công nghệ (C1) được phân nhiều khu vực, mỗi khu vực là xưởng hoặc PTN kể ra ở trên. Mỗi Xưởng, mỗi PTN đều có giảng viên người Pháp và Việt Nam dạy thực tập theo chương tŕnh của Pháp.

 

Cổng  Trường Cao Đẳng Công Nghệ và trường Hàng Hải – Năm không xác định -  H́nh  từ tài liệu  [2] 

 

Trường Cao Đẳng-Công Nghệ- Ban Cơ Khí – Năm không xác định-  H́nh  từ tài liệu  [2] 

 

Theo tài liệu  [2,3,4] :

Đến năm 1973, sau nhiều lần cải tổ cho phù hợp với tiến tŕnh canh tân kỹ nghệ quốc gia, trường KSCN được đổi tên là Cao Đẳng Công Nghệ vẩn thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ) .

Và vào năm 1973 này, theo Sắc lệnh số 033-SL/GD ngày 21/03/1973 , Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ)  đổi thành Viện Đại Học Kỹ Thuật (Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật- HVQGKT).  Viện Đại Học Kỹ Thuật này bao gồm sáu (6) trường thành viên: Trường Cao Đẳng Công Chánh, trường Cao Đẳng Công Nghệ , trường Cao Đẳng Điện Học, trường Cao Đẳng Hóa Học, trường Cao Đẳng Hàng Hải (Việt Nam Hàng hải) và Trường Kỹ Thuật và Khoa Học Căn Bản.

Theo tài liệu  [2] : Đáng chú ý, trường Kỹ thuật và Khoa học căn bản được thành lập theo sắc lệnh 135SL/GD để hỗ trợ cho năm trường cao đẳng thuộc HVQGKT. Trường Kỹ thuật và Khoa học căn bản có nhiệm vụ giảng dạy cho sinh viên năm thứ nhất các kiến thức về kỹ thuật khoa học để sinh viên có thể theo các ngành chuyên môn ở các năm tiếp theo (tại năm trường cao đẳng c̣n lại). Học sinh có bằng Tú Tài 2, ban B (Toán)  hoặc Tú Tài Kỹ thuật  Toán của trường Trung học Kỹ thuật Công nghiệp được thi tuyển, nếu đậu sẽ học năm thứ nhất tại trường này .

Và chỉ khoảng một tháng sau ,Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức được thành lập  theo Sắc lệnh số 083-SL/GD ngày 30/04/1973 .

Tiếp theo đó ,vào ngày 11/01/1974 với Sắc lệnh số 010-SL/VNGDTN, Viện Đại Học Kỹ Thuật ( trước đó là  Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ))   là thành viên Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức, với tên Trường Đại học Kỹ thuật  và chỉ đào tạo hệ đại học.

Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức gồm có 7 trường đại học thành viên, trong đó có 3 trường đă tồn tại  và hoạt động riêng rẽ trước đó ( đánh số 1, 2 vả 3)  và 4 trường mới (đánh số 4,5,6,và 7) : 

1.     Trường Đại học Kỹ Thuật : Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ (1957), bao gồm Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Điện Lực, Trường Kỹ Sư Công Nghệ, và Trường Việt Nam Hàng Hải ;

2.     Trường Đại học Nông nghiệp: Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Nông-Lâm-Súc, rồi Học viện Quốc gia Nông Nghiệp (1972) ;

3.     Trường Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức ;

4.     Trường Đại học Kinh Thương ("Kinh Thương" là viết tắt của "Kinh tế và Thương mại");

5.     Trường Đại học Khoa học Cơ bản ;

6.     Trường Đại học Thiết Kế Thị Thôn ("Thị Thôn" là viết tắt của "Thành thị và Nông thôn");

7.     Trường Sau Đại học (tiếng Anh: College of Graduate Studies), điều phối các chương tŕnh đào tạo bậc Cao Học và Tiến Sĩ.

(Xem thêm chi tiết trong bài Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức  của cùng tác giả).

Theo tài liệu  [8] :  Rất tiếc, miền Nam sụp đổ ngày 30/4/1975 kéo theo sự tan vỡ của một kế hoạch phát triễn Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức  theo hướng của các quốc gia tân tiến. 

 Theo tài liệu  [4] :  Vào thời điểm này, trong khuôn viên của Viện Đại Học Kỹ Thuật (Phú Thọ ) có hai trường. Ranh giới giữa hai trường được xác định theo hướng từ cổng xưởng C1 nh́n thẳng ra cổng giữa đường Tô Hiến Thành :

ü  Phía bên tay phải là khuôn viên của Viện Đại Học Kỹ Thuật ;

ü  Bên phải (trái ? ) là khuôn viên của trường Đại học Chuyên Nghiệp Trung cấp (tuyển khóa đầu tiên 1973).

Theo tài liệu [2] : Sau ngày mất nước 30/4/1975, cùng chung một số phận của miền Nam, trường Kỹ Sư Công Nghệ, đă bị xóa tên và tịch thu bởi Khoa Cơ Khí thuộc Đại Học Bách Khoa Hà Nội.

Theo tài liệu [3,8,9] : Trải qua gần 20 năm (1975) , trường KSCN đă góp phần rất lớn cho đất nước trong việc đào tạo  được 700 kỹ sư chuyên viên và quản trị cho nền công nghiệp cũng như các cơ quan kỹ thuật. Khắp nơi, từ nhà máy điện, đường, giấy vải, xi măng, v.v... cho đến các cơ quan hành chánh, giáo dục ( nhất là các trường trung học kỹ thuật )  và quân sự, đều có sự hiện diện của kỷ sư công nghệ.

Mặc dầu trường KSCN không c̣n nửa, nhưng tên Kỹ Sư Công Nghệ vẫn tồn tại và được biết đến khắp nơi qua các đóng góp của các anh chị em trong cũng như ngoài nước.

Theo tài liệu [4] : Sau 30/4/1975, Viện  Đại học Kỹ Thuật được tạm thời mang tên Trường Đại học Kỹ thuật Phú Thọ. Trên cơ sở của Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ (KSCN) và  một số đơn vị (?) Khoa Công Nghệ trường Đại học Chuyên Nghiệp Trung cấp, Khoa Cơ Khí thuộc Trường Đại học Kỹ thuật Phú Thọ được  thành lập. Các bộ môn trong khoa Cơ khí bao gồm: Bộ môn Công nghệ chế tạo máy, bộ môn Máy chính xác, bộ môn Nguyên lư Chi tiết máy, bộ môn Đúc - Luyện kim.

Theo Quyết định số 426/Ttg ngày 27/10/1976 của ngụy quyền cộng sản , trường Đại học Kỹ thuật Phú Thọ được mang tên Trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM (Sic) . Và theo Quyết định số 1003/QĐ-TC ngày 11/08/1977, Đại học Bách Khoa Tp.HCM bao gồm sáu khoa: Khoa Cơ Khí; Khoa Điện; Khoa Xây Dựng; Khoa Hóa; Khoa Thủy Lợi và Khoa Đào tạo Tại chức.

Đến năm 1978,theo Quyết định số 1030/QĐ-TC.ĐH ngày 15/09/1978 của Bộ trưởng Bộ ĐH và THCN (Sic), Khoa Cơ khí bị tách ra  thành hai khoa: Khoa Cơ khí và khoa Động Lực. Khoa Độn Lực gồm ba Bộ môn: Nhiệt công nghiệp (Cơ lưu chất – Nhiệt), Bộ môn Ô tô và Bộ môn Máy xây dựng - nâng bốc.

Tài liệu tham khảo :

1.     https://kysucongnghe.net/resource/baiviet/chutgidenho.htm C̣n Chút Ǵ Để Nhớ - Nguyễn Văn Tân CN01 -  Kỹ Sư Công Nghệ khóa 1 (1956-1960) .

2.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975 .

3.     https://www.kysucongnghe.net/dongthoigian.htm  Ḍng Thời Gian ...

4.     https://fme.hcmut.edu.vn/lich-su-khoa Lịch sử h́nh thành Khoa Cơ Khí – Trường Đại Học Bách Khoa .

5.     Trường Việt Nam Hàng Hải - Bùi Ngọc Hương – Cựu Hoa tiêu sông Saigon - Ngày 06 tháng 3 năm 2006 -Posted by bienxua on September 26, 2017.

6.     https://dongsongcu.wordpress.com/2017/09/28/truong-hang-hai-viet-nam-tu-nam-1940-den-nam-1953/ Trường Hàng Hải Việt Nam từ năm 1940 đến năm 1953 - Bùi Ngọc Hương Cựu hoa tiêu sông Sàig̣n - March, 2006 - Posted on September 28, 2017 by dongsongcu.

7.     Huỳnh Ái Tông - Tản Mạn Về Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ .

8.     GS. Huỳnh Công Ân – Các trường Đại Học ở miền Nam trước 1975  (Phần 1).

9.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Qu%E1%BB%91c_gia_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ.

 

 

09 - Trường Quốc Gia Thương Mại   - Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n

Trường Quốc Gia Thương Mại  vào năm 1965 được  dọn về khuôn viên Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật - Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Ḥa ,ở khu Phú Thọ , đường Nguyễn Văn Thoại và  đường Tô Hiến Thành,thuộc phường Nguyễn Tri  Phương,Quận 10-Sàig̣n.

Sau đây là sơ lược thành lập Trường  Quốc Gia Thương Mại theo tài liệu [1,2] :

Trường Quốc Gia Thương Mại (École Nationale De Commerce de Saigon) được thành lập vào giữa tháng 5 năm 1956 tại Sài G̣n, sau một buổi tiếp xúc giữa ông Tổng Giám Đốc Nha Kỹ Thuật Học Vụ Trần Văn Bách (Bạch ?) và giáo sư Nguyễn Trọng Chiết (vào lúc đó Bộ Trưởng Giáo Dục Việt Nam Cộng Ḥa là ông Nguyễn Dương Đôn).

(Xem thêm chi tiết về ông  Trần Văn Bách (Bạch ?)  trong Phụ đề ) .

Trong thời điểm này, nhiều quốc gia trong khối Đông Nam Á, kể cả Việt Nam, vẫn chưa hề có một hệ thống giáo dục về Thương Mại. V́ là trường dạy về Thương Mại duy nhất trên toàn quốc nên đă được đặt tên là Trường Quốc Gia Thương Mại (QGTM).

Trường có mục đích đào tạo các sinh viên thành những chuyên viên có kiến thức về hành chính, tài chính  và tổ chức để đảm nhiệm những chức vụ quan trọng cho nhà nước, và các doanh nghiệp thương mại.

Trường QGTM được tổ chức dựa theo khuôn khổ của Institut d'Enseignement Commercial - Université de Grenobe tại Pháp, với các môn học chính:

a)     Tài Chính;

b)     Kinh Tế ;

c)     Thương Mại ;

d)     Luật .

Chương tŕnh giáo dục của Trường QGTM được giáo sư Chiết soạn thảo là một chương tŕnh hoàn toàn mới, dựa theo học tŕnh của các trường Cao Đẳng Thương Mại tại Pháp, và được phân chia thành bốn chứng chỉ:

1.     Chứng chỉ Kiến Thức Thương Mại căn bản;

2.     Chứng chỉ Kinh Tế;

3.     Chứng chỉ Nội Thương gồm có: Thuế Vụ, và Quan Thuế ;

4.     Chứng chỉ Ngân Hàng gồm có: Tài Liệu Xuất Cảng Khẩu, Thủ Tục về Tín Dụng, Bảo Hiểm, và Cách thức Thanh toán.

Xen vào các chứng chỉ trên là các môn sinh ngữ Anh Văn, Pháp Văn, và vài căn bản về tổ chức như Phương Pháp Khoa Học về Công việc, vẽ họa đồ, sắp xếp tài liệu.

Kiến thức sinh viên cũng được bổ sung với tài liệu về Kế toán Tồn kho, Toán Tài chính, v.v... Chương tŕnh này tương đương với chương tŕnh Cao đẳng tại Pháp và chương tŕnh của các College of Business tại Hoa Kỳ.

Khởi đầu, Trường QGTM có trụ sở tại số 2,đường Phạm Đăng Hưng, khu Đakao-quận 1, trong khuôn viên Nha KỹThuật Học Vụ. Cuối năm 1965, trường được dọn về trụ sở mới tại số 268 đường Nguyễn Văn Thoại, nằm trong khuôn viên của Trung Tâm Quốc Gia Kỹ thuật Phú Thọ.

Bắt đầu từ niên khóa 1973-1974, Trường Quốc Gia Thương Mại trở thành Khoa Thương Mại - Trường Đại Học Chuyên Nghiệp Trung Cấp thuộc Viện Đại Học Sài G̣n (chương tŕnh được phỏng theo hệ thống Junior College của Hoa Kỳ). Thí sinh có bằng Tú Tài  2  phải qua một cuộc thi tuyển gồm các môn Toán Lư Hóa và Kiến thức phổ thông để thành Khóa sinh khoa Thương Mại.

Trường Quốc Gia Thương Mại - Sài G̣n đă đào tạo được 19 khóa chuyên viên cho đến ngày 30/4/1975 th́ bị đ́nh chỉ hoạt động vĩnh viễn. Lúc ấy, các sinh viên khóa 19 đang học dang dở được 1 năm, th́ phải bị thuyên chuyển sang các khoa kỹ thuật khác của Trường Đại Học Bách Khoa.

Sinh viên tốt nghiệp Trường Quốc Gia Thương Mại - Sài G̣n, đă đem những kiến thức chuyên môn học hỏi được, đóng góp vào hầu hết mọi cơ cấu sinh hoạt trong nước : Quan Thuế, Thuế Vụ, Ngân Hàng, Doanh Nghiệp…

Tóm tắc những dấu mốc  quan trọng :

05-1956 Trường Quốc Gia Thương Mại (Ecole Nationale De Commerce de Saigon) được thành lập ;

1961 Giáo sư Phạn Hữu Tài làm Giám Đốc;

1965 Dời về số 268, đường Nguyễn Văn Thoại, Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ;

1973 Trường Quốc Gia Thương Mại trở thành Khoa Thương Mại thuộc trường Đại Học Chuyên Nghiệp Trung Cấp – Viện Đại Học Sài g̣n tại Phú Thọ;

05-1975 Ngừng hoạt động (hay bị đóng cửa) .

      

 

Sinh viên trường Quốc Gia Thương Mại – Năm không xác định – Hính trích từ tài liệu [2] 

 

Phụ đề : Vài hàng về Kỹ sư  Trần Văn Bạch 

Theo tài liệu [2] : Ông Trần Văn Bạch  tốt nghiệp kỷ sư  khóa 1935 của École National des Ponts et Chaussées de Paris ( Kiều Lộ) .

Ông  được mời làm Tổng Trưởng Công Chánh và Giao Thông Vận Tải trong nội các ngày 6 tháng 7 năm 1954 của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm.

Vì sự quan tâm đặc biệt về tình trạng Giáo dục Kỹ Thuật  thực tế ở Miền Nam, ông rời bỏ chức vụ Tổng Trưởng Công Chánh và Giao Thông Vận Tải để đãm nhiệm chức vụ Giám Đôc Nha Kỹ Thuật Học Vụ, tiền thân của Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ.

Ông là Giám Đốc đầu tiên Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ thành lập năm 1957.

Theo tài liệu [3,4] : Ông Trần Văn Bạch c̣n là sáng lập viên và kiêm chức giám đốc Trường Việt Nam Hàng Hải. Ông  vừa làm Giám Đốc  vừa làm Giáo sư Tóan cho ban Chỉ Huy (Pont)

Ông Bạch không những là Giám Đốc  trường Cao Đẳng Kỹ Sư Công Nghệ và trường Việt Nam Hàng Hải  , ông còn là giáo sư thỉnh giảng của trường Đại học Khoa Học, trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc…

Ông  cũng là người đóng góp vào việc thành lập Trường Quốc Gia Thương Mại (École Nationale De Commerce de Saigon) vào năm 1956. Trường này được  dọn về khuôn viên Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ năm 1965 .

Hầu hết các sinh viên ngành Khoa học, Kỹ thuật đều là học trò của ông. Kỹ sư Trần Văn Bạch, một nhà giáo dục tận tâm,đã đóng góp to lớn cho nền giáo dục miền Nam.

Theo tài liệu [2] : Ông là một người rất nhân từ, khiêm tốn.Ông cho nhiều học sinh nghèo ở tỉnh theo học trường chuyên nghiệp tại Sàig̣n, được phép vào trú ngụ trong mấy cái xưởng không dùng đến.

Trong  tài liệu [5],một cựu học sinh trường Cao Thắng  cũng viết  tương tự như trên :

‘’ Năm 1956, tôi vào học lớp Đệ Thất Trường Kỹ Thuật Phan Đ́nh Phùng, chi nhánh của Kỹ Thuật Cao Thắng. Qua năm 1957,tôi được ông Giám Đốc Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ, Kỹ sư Cầu Cống Trần Văn Bạch cho tôi và một số học sinh khác tạm trú trong khuôn viên của Nha ’’.

Ông người miền Nam, rất b́nh dị ,sinh năm 1910, mất năm 1975.

 

Tài liệu tham khảo :

1.     https://qgtm-usa.blogspot.com/2014/01/lich-su-truong-quoc-gia-thuong-mai-sai.html Lịch Sử Trường Quốc Gia Thương Mại – Sài G̣n - Trường Quốc Gia Thương Mại- Sài G̣n  (École Nationale De Commerce de Saigon) - Saturday, January 11, 2014 .

2.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975 .

3.     Trường Việt Nam Hàng Hải - Bùi Ngọc Hương – Cựu Hoa tiêu sông Saigon - Ngày 06 tháng 3 năm 2006 -Posted by bienxua on September 26, 2017.

4.     https://dongsongcu.wordpress.com/2017/09/28/truong-hang-hai-viet-nam-tu-nam-1940-den-nam-1953/ Trường Hàng Hải Việt Nam từ năm 1940 đến năm 1953 - Bùi Ngọc Hương Cựu hoa tiêu sông Sàig̣n - March, 2006 - Posted on September 28, 2017 by dongsongcu.

5.     Huỳnh Ái Tông - Tản Mạn Về Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ .

 

10 - Trường Cao Đẳng Điện Học - Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n

Trường Cao Đẳng Điện Học được thành lập vào năm 1957  trực thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ - Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Ḥa. Trường  nằm trong khuôn viên  của Trung Tâm này ở khu Phú Thọ , đường Nguyễn Văn Thoại và  đường Tô Hiến Thành,thuộc phường Nguyễn Tri  Phương,Quận 10-Sàig̣n.

Sau đây là sơ lược thành lập trường Cao Đẳng Điện Học  :

Theo tài liệu [1] :  Vào ngày 23 tháng 11 năm 1947, Khoa Nhân Viên Vô Tuyến Điện (KNVVTĐ) được thành lập và  trực thuộc trường Đại học Khoa Học Sài G̣n. Nhiệm vụ  của KNVVTĐ  là đào tạo nhân viên kỹ thuật vô tuyến điện hạng 1, hạng 2. Có  một thời gian , KNVVTĐ  đóng ở khuôn viên trường Lycée Petrus Kư- Quận 5-Sàig̣n.

Đến tháng 01 năm 1949 , KNVVTĐ  trở thành trường Vô Tuyến Điện (École de Radio - Électricité) , đào tạo kỹ thuật viên vô tuyến điện (2 năm), điện tín viên, trắc lượng viên, chuẩn bị các kỳ thi về hàng hải và hàng không.

 Năm 1950, Trường Vô Tuyến Điện trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo dục, sau đó là Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ.

Năm 1957, Trường  Vô Tuyến Điện được sát nhập làm thành viên của Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ và  được đổi tên là trường Cao Đẳng Điện Học. Trường đào tạo kỹ sư điện, cán sự điện và điện tử, huấn luyện trung cấp và thợ chuyên môn cho các xí nghiệp công tư và quân nhân của Bộ Quốc Pḥng.

 

Trường Cao Đẳng Điện Học – Năm không xác định -H́nh trích từ tài liệu [2]

 

Theo tài liệu [3] : Trường Cao Đẳng Điện Học có 2 ngành: Điện năng và Điện tử.

Ngành điện năng thiên về giảng dạy sản xuất điện năng, phân phối cũng như kiểm soát việc phân phối điện năng. Ngành điện tử chú trọng nhiều về điện kỹ nghệ truyền thanh và truyền h́nh, sau đó mở thêm ngành viễn thông để cung cấp chuyên viên cho ngành bưu điện.

Điều kiện để dự thi vào Trường Cao Đẳng Điện Học : Thí sinh phải có Tú Tài Toán, hoặc Tú Tài Kỹ Thuật Toán hay một văn bằng tương đương. Tất cả thí sinh sẽ thi cùng môn với nhau, khi ghi danh sẽ chọn từng ban học nhưng sẽ thi chung, đến khi sắp hạng trúng tuyển th́ được sắp theo từng ngành học (tức là các Trường trực thuộc Trung tâm là Công Chánh, Công Nghệ, Hàng Hải, Điện, Hóa). Thí sinh thí hai môn chính là Toán và Lư Hóa, thời gian thi là 4 tiếng.

Sinh viên Trường thường có chương tŕnh học rất nặng. Hàng tuần phải thêm 40 tiếng đồng hồ, cần có những sinh hoạt giải trí, thể thao, văn nghệ xă hội, nên Trung tâm có một Phụ tá Sinh viên vụ đặc trách vấn đề này. Trong lúc học, sinh viên học cấp kỹ sư, và sinh viên cấp cán sự từ năm thứ 2, đều bắt buộc có 1-2 tháng tập sự (nay gọi là thực tập) tại các công ty như Điện lực Việt Nam, Xi măng Hà Tiên, hay Đài Truyền h́nh. Thời gian tập sự đó giúp sinh viên hiểu rơ hơn về môi trường làm việc trong tương lai. Sau mỗi kỳ tập sự, sinh viên phải làm một bản phúc tŕnh gửi về trường để chấm điểm.

Sau đại học, sinh viên tốt nghiệp ưu tú, hay những ai có mong muốn học tiếp th́ sẽ được nhà trường giới thiệu với các đại học nước ngoài.

 

Cổng Trường Cao Đẳng Điện Học – Năm không xác định -H́nh trích từ tài liệu  [2]

 

Theo tài liệu [2] :  Theo sắc lệnh số 135SL/GD ngày 15 tháng 9 năm 1972 của chính phủ  Việt Nam Cộng Ḥa, Trung tâm Quốc Gia Kỹ thuật (Phú Thọ) được đổi tên là Học viện Quốc gia Kỹ Thuật (HVQGKT) ( hay Viện Đại Học Kỹ Thuật) gồm sáu trường thành viên : Trường Kỹ Thuật và Khoa Học Căn Bản, trường Cao Đẳng Công Chánh,trường Cao Đẳng Công Nghệ (Quốc Gia Kỹ sư Công Nghệ), trường Cao Đẳng Điện Học,trường Cao đẳng Hóa Học, trường Cao Đẳng Hàng Hải (Việt Nam Hàng hải).

Trường Kỹ Thuật và Khoa Học Căn Bản được thành lập theo sắc lệnh 135SL/GD để hỗ trợ cho năm trường cao đẳng thuộc HVQGKT. Trường này có nhiệm vụ giảng dạy cho sinh viên năm thứ nhất các kiến thức về kỹ thuật khoa học để sinh viên có thể theo các ngành chuyên môn ở các năm tiếp theo (tại năm trường cao đẳng c̣n lại). Học sinh có bằng Tú Tài 2, ban B (Toán)  hoặc Tú Tài Kỹ thuật  Toán của trường trung học Kỹ thuật được thi tuyển, nếu đậu sẽ học năm thứ nhất tại trường này .

Và chỉ khoảng vài tháng sau ,Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức được thành lập  theo Sắc lệnh số 083-SL/GD ngày 30/04/1973 .

Năm 1973-1974, trường Cao Đẳng Điện Học chỉ đào tạo  kỹ sư, c̣n cấp cán sự điện được chuyển qua trường Đại học Chuyên nghiệp Trung cấp.

Tiếp theo đó ,vào ngày 11 tháng 01 năm 1974 với Sắc lệnh số 010-SL/VNGDTN, Học viện Quốc gia Kỹ Thuật  (HVQGKT) ( trước đó là  Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ))   là thành viên Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức, với tên trường Đại học Kỹ thuật  và chỉ đào tạo hệ đại học.

Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức gồm có 7 trường đại học thành viên, trong đó có 3 trường đă tồn tại  và hoạt động riêng rẽ trước đó ( đánh số 1, 2 vả 3)  và 4 trường mới (đánh số 4,5,6,và 7) : 

1.     Trường Đại học Kỹ Thuật : Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ (1957), bao gồm Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Điện Lực, Trường Kỹ Sư Công Nghệ, và Trường Việt Nam Hàng Hải ;

2.     Trường Đại học Nông nghiệp: Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Nông-Lâm-Súc, rồi Học viện Quốc gia Nông Nghiệp (1972) ;

3.     Trường Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức ;

4.     Trường Đại học Kinh Thương ("Kinh Thương" là viết tắt của "Kinh tế và Thương Mại’’); 

5.     Trường Đại học Khoa học Cơ bản ;

6.     Trường Đại học Thiết Kế Thị Thôn ("Thị Thôn" là viết tắt của "Thành thị và Nông thôn");

7.     Trường Sau Đại học (tiếng Anh: College of Graduate Studies), điều phối các chương tŕnh đào tạo bậc Cao Học và Tiền sĩ.

(Xem thêm chi tiết trong bài Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức  của cùng tác giả).

 

Theo tài liệu  [4] :  Rất tiếc, miền Nam sụp đổ ngày 30/4/1975 kéo theo sự tan vỡ của một kế hoạch phát triễn Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức  theo hướng của các quốc gia tân tiến. 

Theo tài liệu [4,5] : Tính đến năm 1975 th́ trường Cao Đẳng Điện Học đào tạo được 890 chuyên viên.

 

Trường Cao Đẳng Điện Học-Năm 1986 - H́nh trích từ tài liệu [3] 

 

 

Cổng trường Cao Đẳng Điện Học-Năm 1986 - H́nh trích từ tài liệu [3] 

 

 

Tài liệu tham khảo :

1.     http://startup.gov.vn/Pages/NguonNhanLuc.aspx?ItemID=91

2.     Bộ Khoa Học và Công nghệ - Trường Đại học Bách Khoa TP. HCM - 14/08/2018.

3.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975 .

4.     https://chuyenxua.net/lich-su-thanh-lap-trung-tam-quoc-gia-ky-thuat-phu-tho-cua-sai-gon-xua-nay-la-dai-hoc-bach-khoa/ Lịch sử thành lập Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ của Sài G̣n xưa (nay là Đại học Bách Khoa) Sài G̣n xưa - Đông Kha – chuyenxua.net .

5.     GS. Huỳnh Công Ân – Các trường Đại Học ở miền Nam trước 1975  (Phần 1).

6.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Qu%E1%BB%91c_gia_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ .

 

11 - Trường Cao Đẳng Hóa Học   - Đường Nguyễn Văn Thoại và Tô Hiến Thành, Phường Nguyễn Tri Phương,Quận 10-Sàig̣n

Trường Cao Đẳng Hóa Học được thành lập vào năm 1962   trực thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật - Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Ḥa. Trường  nằm trong khuôn viên  của Trung Tâm này ở khu Phú Thọ , đường Nguyễn Văn Thoại và  đường Tô Hiến Thành,thuộc phường Nguyễn Tri  Phương,Quận 10-Sàig̣n.

Sau đây là sơ lược thành lập Trường Cao Đẳng Hóa Học :

Theo tài liệu  [1 2,3] :

Năm 1962, trường Cao Đẳng Hóa Học được thành lập trong  khuôn viênTrung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật. Vào những năm đầu , trường này mặc dầu mang tên Cao Đẳng nhưng chỉ đào tạo  cán sự hóa học cho 2 ngành là cán sự pḥng thí nghiệm và ngành sản suất.  Thí thí sinh dự thi tuyển chỉ cần bằng Tú Tài 1 trở lên.

Tới năm 1968, trường được nâng lên bậc  Cao Đẳng.Bên cạnh việc đào tạo  cán sự hóa học ,  trường c̣n đào tạo kỹ sư hóa học. Thí sinh dự thi tuyển vào chương tŕnh   kỹ sư phải có bằng Tú tài 2, ban B (Toán)  hay Kỹ Thuật Toán . Sau 4 năm, sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng Kỹ Sư Hóa Học.

Theo tài liệu  [1] : Mục đ́ich của trường nhằm đào tạo chuyên viên trung và cao cấp cho sự phát triển và sự sáng tạo của Kỹ  Nghệ miền Nam Việt Nam :

-Hổ trợ và cung ứng nhu cầu cần thiết cho cuộc sống hàng ngày: Giấy , Sơn, Thuỷ Tinh, Xi măng, Diêm quẹt ;

Hổ trợ hoat động sản xuất căn bản Canh Nông, Kỹ Nghệ Biến Chế kim loại, Kỹ Nghê Dệt, Kỹ Nghệ Dược Phẩm, Thực Phẩm;

-Hổ trợ và phát triển các khu Công Nghệ như Khu Biên Hoà, An hòa, Nông Sơn, Phong Dinh, Cam Ranh, Nhà Bè, Nha Trang.

 

Theo tài liệu  [4] : Sau đó, kể từ năm 1973 - 1974, Trường chỉ c̣n đào tạo kỹ sư, không đào tạo cấp cán sự.

 

Sau đây là danh sách các vị giám đốc  trường Cao Đẳng Hóa Học từ lúc mới thành lập tới năm 1975 trích từ tài liệu [5] :

1. Thầy Lê Sĩ Ngạc, Giám đốc, giai đoạn 1962-1963 (Thầy c̣n là Giám đốc của cả Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật và Giám đốc Trường Công Chánh, Thầy mất năm 2003 tại Hoa Kỳ) ;

2. Thầy Đinh Văn Hoàng, Giám đốc, giai đoạn 1963-1965 (Thầy mất năm 2011 tại Pháp);

3. Thầy Trương Công Hiếu, Giám đốc , giai đoạn 1965-1967 (Thầy đang sống tại Canada);

(Xem thêm sơ lược tiểu sử giáo sư Trương Công Hiếu trong Phụ đề );

4. Cô Dương Hải Đường, Giám đốc, giai đoạn 1967-1968 (Cô mất năm 2019 tại Sài g̣n);

5. Thầy Hoàng Huân Định, Giám đốc, giai đoạn 1968-1970 (Thầy đang sống tại Hoa Kỳ);

6. Thầy Ngô Thế Hùng, quyền Giám đốc, giai đoạn 1970 (Thầy đang sống tại Hoa Kỳ);

7. Cô Dương Hải Đường, Giám đốc, giai đoạn 1970-1972 (Cô mất năm 2019 tại Sàig̣n);

8. Thầy Đặng Hữu Phước, Giám đốc, giai đoạn 1972-1975 (Thầy đang sống tại Úc).


Theo tài
liệu  [1] : Phần đông sinh viên tốt nghiệp ra trường đảm nhận chức vụ quan trọng trong những công ty nổi tiếng như :

Công ty giấy Cogido – Tân Mai;

Công ty Xi măng Hà Tiên;

Mỏ than Nông Sơn;

Cọng ty Đường Việt Nam;

Các công ty dệt nhuộm;

Viện bào chế Y Dược;

Trung tâm Khuếch Trương Kỹ Nghệ;

Bộ Kinh Tế,Canh Nông;

Sàig̣n Thủy Cục …

 

Sinh viên trường Cao Đẳng Hóa Học – H́nh trích từ tài liệu  [1] 

 

Vào năm 1973 này, theo Sắc lệnh số 033-SL/GD ngày 21/03/1973 , Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ)  đổi thành Viện Đại Học Kỹ Thuật (Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật- HVQGKT).  Viện Đại Học Kỹ Thuật này bao gồm sáu (6) trường thành viên: Trường Cao Đẳng Công Chánh, trường Cao Đẳng Công Nghệ , trường Cao Đẳng Điện Học, trường Cao Đẳng Hóa Học, trường Cao Đẳng Hàng Hải (Việt Nam Hàng hải) và Trường Kỹ Thuật và Khoa Học Căn Bản.

Theo tài liệu  [1] : Đáng chú ý, trường Kỹ thuật và Khoa học căn bản được thành lập theo sắc lệnh 135SL/GD để hỗ trợ cho năm trường cao đẳng thuộc HVQGKT. Trường Kỹ thuật và Khoa học căn bản có nhiệm vụ giảng dạy cho sinh viên năm thứ nhất các kiến thức về kỹ thuật khoa học để sinh viên có thể theo các ngành chuyên môn ở các năm tiếp theo (tại năm trường cao đẳng c̣n lại). Học sinh có bằng Tú Tài 2, ban B (Toán)  hoặc Tú Tài Kỹ thuật  Toán của trường Trung học Kỹ thuật Công nghiệp được thi tuyển, nếu đậu sẽ học năm thứ nhất tại trường này .

Và chỉ khoảng một tháng sau ,Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức được thành lập  theo Sắc lệnh số 083-SL/GD ngày 30/04/1973 .

Tiếp theo đó ,vào ngày 11/01/1974 với Sắc lệnh số 010-SL/VNGDTN, Viện Đại Học Kỹ Thuật ( trước đó là  Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật (Phú Thọ))   là thành viên Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức, với tên Trường Đại học Kỹ thuật  và chỉ đào tạo hệ đại học.

Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức gồm có 7 trường đại học thành viên, trong đó có 3 trường đă tồn tại  và hoạt động riêng rẽ trước đó ( đánh số 1, 2 vả 3)  và 4 trường mới (đánh số 4,5,6,và 7) : 

1.     Trường Đại học Kỹ Thuật : Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ (1957), bao gồm Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Điện Lực, Trường Kỹ Sư Công Nghệ, và Trường Việt Nam Hàng Hải ;

2.     Trường Đại học Nông nghiệp: Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Nông-Lâm-Súc, rồi Học viện Quốc gia Nông Nghiệp (1972) ;

3.     Trường Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức ;

4.     Trường Đại học Kinh Thương ("Kinh Thương" là viết tắt của "Kinh tế và Thương mại")  ;

5.     Trường Đại học Khoa học Cơ bản ;

6.     Trường Đại học Thiết Kế Thị Thôn ("Thị Thôn" là viết tắt của "Thành thị và Nông thôn")  ;

7.     Trường Sau Đại học (tiếng Anh: College of Graduate Studies), điều phối các chương tŕnh đào tạo bậc Cao Học và Tiền Sĩ.

(Xem thêm chi tiết trong bài Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức  của cùng tác giả).

Theo tài liệu  [2] :  Rất tiếc, miền Nam sụp đổ ngày 30/4/1975 kéo theo sự tan vỡ của một kế hoạch phát triễn Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức  theo hướng của các quốc gia tân tiến. 

 

Trường Cao Đẳng Hóa Học - Năm 1986 -  H́nh trích từ tài liệu [6] 

 Phụ đề : Sơ lược tiểu sử Tiến Sĩ Trương Công Hiếu

Theo tài liệu [7,8,9,10] :

Tiến Sĩ Trương Công Hiếu sinh ngày 23 tháng 9 năm 1941 tại Sàig̣n. Ông  nguyên là cựu học sinh trường Jean-Jacques Rousseau (sau này là Trường Trung Học Lê Quư Đôn ở Sàig̣n-Xem thêm chi tiết trong bài  Trường trung học ở Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975 - Collège Chasseloup-Laubat- Lycée Jean-Jacques Rousseau- Trung Tâm Giáo Dục Lê Quư Đôn của cùng tac giả ).

Năm 1959,là  một trong những học sinh tốt nghiệp Tú Tài 2 Ban Toán với thành tích xuất sắc nhất toàn quốc,  ông được học bổng sang Hoa Kỳ để theo học ngành kỹ thuật tại trường Đại Học New York. Ông đậu Thủ Khoa khi thi lấy bằng kỹ sư và tiếp theo đó ông học lấy bằng Master về Kỹ Sư Hóa Học của trường Đại Học New York.

Năm 1964, ông trở về Việt Nam, đi dạy ở trường Cao Đẳng Hóa Học và trường Cán Sự Hóa Học thuộc trong Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ và được bổ nhiệm làm Giám đốc trường Cao Đẳng Hóa Học . Sau 3 năm làm giáo sư ở trường Cao Đẳng Hóa Học , ông trở lại Hoa Kỳ để lấy bằng Tiến Sỉ Kỹ Sư vào năm 1971.

Sau  năm 1971,ông rời Hoa Kỳ sang định cư ở Canada, đảm trách chức vụ kỹ sư tại nhiều công ty lớn:

·        Ông là Giám Đốc Kỹ Thuật của Công Ty Groupe Victoriaville, Québec, Công ty sản xuất bàn ghế lớn nhất ở Québec, Canada;

·        Ông làm Giám Đốc Sản Xuất của Công Ty Bombardier. Công ty  này chuyên sản xuất xe chạy trên tuyết (Snowmobile), xe chạy dưới đường hầm (Métro,Subway), máy bay Canadair Regional Jet (loại máy bay jet bay đường ngắn) ;

·        Năm 1978,ông vào làm việc cho Công Ty Đúc Tiền Kim Loại Hoàng Gia Canada (Royal Canadian Mint).

Khi mới bắt đầu sự nghiệp tại nhà máy đúc tiền, ông phụ trách giám sát kỹ thuật, chịu trách nhiệm sửa chữa máy móc, và sản xuất dụng cụ.

Đến năm 1980,ông trở thành giám đốc kỹ thuật, giám sát các nhà máy tại Ottawa và Winnipeg, sau đó vào năm 2001, ông làm là giám đốc kỹ thuật cao của tập đoàn, chịu trách nhiệm nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới , tập trung vào chiến lược phát triển dài hạn cho nhà máy.

Năm 2006, ông được đề cử làm Tổng Giám Đốc Kỹ Thuật Ban Khảo Cứu của Công ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada (Royal Canadian Mint).

Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia- Gia Nả Đại, là Tổng Công ty thuộc sở hữu của chính phủ Canada, được thành lập vào năm 1908 tại Ottawa để sản xuất tiền kim loại cho Canada và tinh chế vàng ṛng được vận chuyển từ rất nhiều mỏ vàng ở Québec, Ontario, Manitoba, phía Bắc Alberta và British Columbia.

Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia- Gia Nả Đại - H́nh trích từ tài liệu [8] 

 

Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia  - Gia Nả Đại chuyên sản xuất tiền xu lưu hành và đồng phôi với cao độ dập tự động cho hơn 80 quốc gia trên thế giới tại cơ sở đúc tiền ở Winnipeg. Những kỹ thuật chuyên sản xuất những loại tiền xu lưu niệm, những loại tiền kim loại quư như vàng, bạc, bạch kim, palladium để đầu tư trên thế giới đều được sản xuất tại cơ sở lịch sử Ottawa.

Năm 2008 ,Canada tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 100 ngày thành lập Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia-  Gia Nả Đại (Royal Canadian Mint) để đánh dấu sự thành công của Công ty Đúc Tiền Hoàng Gia Canada, được nổi danh là một công ty hàng đầu của thế giới về những kỹ thuật và những phát minh hiện đại, những hiểu biết sâu rộng về khoa học và kỹ thuật đúc tiền.

Trong quyển sách: "Lịch Sử 100 Năm của Nhà Máy Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại" (Royal Canadian Mint 100 Years of History), Tiến Sĩ Trương Công Hiếu đă được ghi nhận là người đầu tiên trên thế giới đă thay đổi hệ thống đúc tiền bằng những kỹ thuật dùng kim loại và thép để làm cho đồng tiền mỏng hơn, nhẹ hơn và không bị rỉ sét.

Ngày nay những kỹ thuật hiện đại của Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Nả Đại do ông phát minh đă thay đổi tất cả tiền lưu hành hiện tại của nước Canada. Những cống hiến của ông đă giúp đưa Canada lên vị trí hàng đầu trong ngành đúc tiền, chuyển đổi công nghệ sản xuất đồng xu. Kết quả là Canada đă giới thiệu “nhiều sản phẩm đầu tiên” đến với ngành công nghệ đúc tiền toàn cầu.

Những phát minh mới về kỹ thuật đúc tiền của ông hiện nay đă tạo nhiều ảnh hưởng về h́nh thức và phương cách đúc tiền kim loại trên thế giới .

Ông phát minh Kỹ thuật mạ đa lớp ( multiplaqué ) trên thép cho phép thay thế các nguyên liệu đắt tiền hiện có như đồng, kền và nhôm bằng thép không rỉ (acier inoxydable,acier  inox -stainless steel) , giúp cắt giảm chi phí, an toàn khi thực hiện và kéo dài thời gian sử dụng. Kỹ thuật nầy đang được xữ dụng trong tiền kim loại của hơn 35 nước trên thế giới.

Cũng chính ông người đầu tiên và duy nhất đă phát minh và được cấp bằng sáng chế cho kỹ thuật sử dụng in màu trên tiền kim loại lưu hành giống như in mầu trên giấy bạc . Khác với tiền cổ sưu tầm, ít khi bị phai màu do không tiếp xúc với trực tiếp với tay người sử dụng, tiền kim loại đang lưu hành hiện nay thường xuyên bị tác động và mài ṃn bởi người sử dụng v́ thế không thể giữ được màu in. Bằng nhiều nghiên cứu chuyên sâu, bằng cách sử dụng tia laser để đổi màu trên tiền kim loại , tiến sĩ Trương đă phát minh ra kỹ thuật in màu độc đáo tránh bị mài ṃn.

Cho đến nay, Nhà máy đúc tiền Hoàng Gia Canada là đơn vị duy nhất trên thế giới sản xuất thành công tiền đúc lưu hành với công nghệ in màu cải tiến.

 

Đồng tiền  kim loại Canada - H́nh trích từ tài liệu [8] 

 

Không dừng lại ở đó, công nghệ xác thực DNA (Digital Non-Destructive Activation) đầu tiên trên thế giới xác nhận nhanh chóng và không phá hủy đồng tiền vàng thông qua điện thoại thông minh, đến từ phát minh của tiến sĩ Trương.

Ông đă tạo ra một khuôn mẫu ngẫu nhiên không thể bị sao chép trên bề mặt đồng xu. Các mẫu thiết kế bằng laser này đă được mă hóa bằng chữ kư, hoặc vân tay điện tử và được ghi lại trong kho dữ liệu nguồn của nhà máy. Từ đó, cho dù ở bất kỳ đâu, vào bất kỳ thời điểm nào, máy tính của nhà máy đúc tiền Hoàng Gia vẫn có thể tiếp nhận h́nh ảnh được gửi từ hệ thống vệ tinh điện thoại đến trang web (trang mạng) của nhà mày để phân tích bằng máy tính cho chữ kư phù hợp trong cơ sở dữ liệu.

Ngoài những công nghệ tiên tiến kể trên, tiến sĩ Trương c̣n được vinh danh nhờ các nghiên cứu và ứng dụng lớp phủ vật lư (PVD) để phủ cứng bề mặt giúp kéo dài thời gian bảo quản và dễ dàng khôi phục, giảm việc khắc số trực tiếp, kỹ thuật lưỡng kim giúp in 2 màu cho các đồng tiền làm từ 2 loại vật liệu (như đồng tiền $2 ).Ông cũng nghiên cứu ra các kỹ thuật  tinh chế vàng nguyên chất 4 số 9 (.9999) làm tiêu chuẩn quốc tế từ năm 1982, và kỹ thuật lọc vàng 5 số 9 (.99999),

Ngoài ra,ông cũng là người đă phát minh [COLOR = maroon],kỹ thuật sản xuất tiền xu với h́nh ảnh ba chiều (hologram), và dùng kiến thức DNA trong tiền lưu hành và vàng để bảo mật và định tính xác thực đồng tiền vàng ṛng của Canada lưu hành ở bất cứ nơi nào trên thế giới qua hệ thống vệ tinh điện thoại thông minh di động (smartphone).

Hiện nay tiền xu ở các nước như: Canada, Singapore, New Zealand, Barbados , Ghana, Ethiopia , Thailand, Philippines , Venezuela, Panama, Albania, United Arab Emirates… cũng đang dùng những kỹ thuật của ông. Chính phủ Mỹ cũng đă b́nh chọn kỹ thuật của ông để đưa vào áp dụng trong chương trinh tuyển lựa kim loại mới cho ngành tiền tệ của Mỹ, do Thượng và Hạ Nghị Viện Mỹ chấp thuận cho phép chánh phủ Obama thay đổi tiền tệ Mỹ trong tương lai.

Trong quyển sách: "Chuyện Kể Về Các Cuộc Triển Lăm Tiền Xu Quốc Tế" (Story of World Money Fair) được xuất bản vào năm 2012, tác giả Albert M Beck, Chủ Tịch và Sáng Lập Viên của Hội Chợ Quốc Tế Tiền Tệ Berlin tại Đức đă viết và b́nh luận về Tiến Sĩ Trương Công Hiếu như sau:

"Trong 40 năm vừa qua người mà có công lao nhiều nhất trong sự tiến bộ về ngành đúc tiền trên thế giới, người đă đóng góp nhiều nhất về những kiến thức mới về nghành đúc tiền trên thế giới chính là Tiến Sỉ Hieu C. Truong của Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại".

Ông M. Beck cũng đưa thêm lời b́nh luận: " Tôi cho rằng ông Hieu C. Truong là người có công nhiều nhất đối với ngành kỹ thuật đúc tiền kim loại của thế giới. Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại cũng công nhận rằng Tiến Sỉ Trương Công Hiếu là người kỹ sư nổi tiếng nhất trên thế giới và là người hiểu biết nhiều nhất trong kỹ thuật đúc tiền. Theo tôi ai muốn biết kỹ thuật đúc tiền sẽ đi về hướng nào trong tương lai th́ nên hỏi ông Hiếu ".

Để tiếp tục lưu danh là một Công Ty dẫn đầu thế giới về kỹ thuật đúc tiền và để thành công trong những lảnh vực phát triển các công nghệ mới hầu phục vụ ngành công nghiệp đúc tiền của thế giới và cũng để tôn vinh và ghi nhớ những công trạng đóng góp to lớn của Tiến Sĩ Trương Công Hiếu đối với Sở Đúc Tiền Hoàng Gia Gia Nả Đại, Royal Canadian Mint đă cho xây dựng một Trung Tâm Khảo Cứu Xuất Sắc và Hiện Đại với ngân sách 10 triệu đô la tại Winnipeg và đặt tên cho cơ sở khảo cứu về kỹ thuật đúc tiền vừa mới xây dựng nầy là:

Dr. Hieu C. Truong Centre of Excellence for Research and Development (Trung tâm Khảo Cứu Xuất Săc  và Phát Triển Tiến Sĩ Trương Công Hiếu)

 

Trung Tâm Khảo Cứu Xuất Săc Tiến Sĩ Trương Công Hiếu (Dr Hieu C. Truong Center of Excellence) Royal Canadian Mint, Winnipeg, Manitoba, Canada - H́nh trích từ tài liệu [8] 

 

Tiến sĩ Trương Công Hiếu chụp trước bảng đồng tôn vinh ông của Trung Tâm Khảo Cứu  - H́nh trích từ tài liệu [10]

 

Nhà máy đúc tiền Hoàng Gia Canada cũng sản xuất một huy chương để tôn vinh ông và đánh dấu sự ra đời của Trung tâm.

Cơ sở khảo cứu nầy đă được khánh thành vào ngày 13 tháng 6 năm 2013 cùng lúc với nhà máy mạ thứ hai được xây dựng với ngân sách 70 triệu đôla. Tất cả những cơ sở nầy là nơi mà những kỹ thuật mới nhất về đúc tiền trong lảnh vực khoa học, trong lảnh vực tự động hóa qua máy vi tính, trong kiến thức mới nhất với điện tín vệ tinh, phát triển phần mềm, khoa học vật liệu trong việc quản lư tiền tệ, trong lảnh vực thông tin liên lạc bằng điện thoại hoán chuyển thói quen của người tiêu dùng ... tất cả những phát minh mới về tiền tệ của Tiến Sỉ Trương Công Hiếu sẽ được đưa vào áp dụng và sẽ được phát triển tại nơi nầy để phục vụ cho các thế hệ trong tương lai.

Trung Tâm Khảo Cứu mới nầy cũng sẽ là nơi được dùng để đào tạo các kỹ sư, các nhà quản lư và các giám đốc của các Nhà Máy Đúc Tiền trên thế giới. Những người đi tu nghiệp sẽ được đưa đến Trung Tâm nầy để học các kỹ thuật căn bản cũng như các kỹ thuật hiện đại về đánh tiền, v́ từ trước đến nay kỹ thuật nầy chưa từng được giảng dạy tại một trường đại học nào trên thế giới. Trung Tâm Khảo Cứu nầy cũng sẽ là nơi hội tụ của các kỹ sư, các nhà khảo cứu trên thế giới t́m đến với nhau để cùng nhau hợp tác khảo cứu về môn đúc tiền.

Tiến sĩ Trương Công Hiếu đă làm việc cho nhà máy đúc tiền cho đến khi nghỉ hưu năm 2014. Ông kết thúc sự nghiệp đúc tiền với hơn mười  bằng sáng chế được công nhận ở Canada, Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Singapore và Úc. Ông đă để lại cả một kho tàng kiến thức đúc tiền cho Canada và hơn 40 nước trên thế giới hiện đang áp dụng các sáng chế của ông.

Vào ngày 24 tháng 1 năm 2018 ,ông Trương Công Hiếu đă chính thức nhận Huân Chương Vinh Danh Bội Tinh Gia Nă Đại ((Order of Canada) .

Đây là huân chương cao quư đứng thứ hai sau Vinh Công Bội Tinh (Order of Merit). Trên huân chương có ḍng chữ desiderantes meliorem patriam, có nghĩa là V́ Một Đất Nước Tốt Đẹp Hơn (tiếng Anh: "They desire a better country") .

 

Tiến sĩ Trương Công Hiếu và Bà Gouverneure Générale Canada Julie Payette - H́nh trích từ tài liệu [9] 

 

Ngoài việc phục vụ cho đất nước Canada, Tiến Sĩ Trương Công Hiếu cũng tham gia và ủng hộ các chương tŕnh họat động của Cộng Đồng Việt Nam tại Canada.

Ông làm có vấn cho các tổ chức: Thể Thao Người Việt Bắc Mỹ lần thứ IX được tổ chức tại Ottawa năm 1981, Ủy Ban Lập Đền Kỹ Niệm của Liên Đoàn Hội Người Việt, bao gồm 11 Hội Người Việt của các địa phương khắp nước Canada, Ủy Ban xây dựng Trung Tâm Văn Lang (ngân sách do chánh phủ Ontario, Canada tài trợ). Trung Tâm Văn Lang là một chung cư gồm 80  căn appartement được xây dựng lên để nâng đở, trợ giúp cho những bô lăo người Việt và những gia đ́nh có nguồn lợi tức thấp, có được nơi ổn định cho đời sống.

Ông cũng cộng tác với Hội Phật Giáo Người Việt xây dựng lên Chùa Từ Ân với kiến trúc thuần túy của một ngôi chùa Việt Nam tại thủ đô Ottawa.

 

 

Tài liệu tham khảo :

1.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975.

2.     GS. Huỳnh Công Ân - Các trường Đại học ở miến Nam trước 1975 (Phần 1) .

3.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_t%C3%A2m_Qu%E1%BB%91c_gia_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Ph%C3%BA_Th%E1%BB%8D Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ.

4.     http://startup.gov.vn/Pages/NguonNhanLuc.aspx?ItemID=91 Bộ Khoa Học và Công nghệ - Trường Đại học Bách Khoa TP. HCM- 14/08/2018 .

5.     https://www.facebook.com/Chemengalumni/posts/th%E1%BA%A7y-tr%C6%B0%C6%A1ng-c%C3%B4ng-hi%E1%BA%BFu-hi%E1%BB%87u-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-cao-%C4%91%E1%BA%B3ng-h%C3%B3a-h%E1%BB%8Dc-t%E1%BB%A9c-l%C3%A0-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-khoa-k%E1%BB%B9-/865792668679374/Publication de Cựu Sinh Viên Kỹ Thuật Hoá Học Phú Thọ Bách Khoa – BKACE - Cựu Sinh Viên Kỹ Thuật Hoá Học Phú Thọ Bách Khoa - BKACE  - 4 mars 2024 .

6.     https://chuyenxua.net/lich-su-thanh-lap-trung-tam-quoc-gia-ky-thuat-phu-tho-cua-sai-gon-xua-nay-la-dai-hoc-bach-khoa/  Lịch sử thành lập Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ của Sài G̣n xưa (nay là Đại học Bách Khoa) Sài G̣n xưa - Đông Kha – chuyenxua.net.

7.     https://en.m.wikipedia.org/wiki/Hieu_C._Truong Hieu C. Truong .

8.     https://www.vietvancouver.ca/entertainment-giai-tri/tien-si-truong-cong-hieu-va-royal-canadian-mint vietvancouver.ca Tiến sĩ Trương Công Hiếu và Royal Canadian Mint - Lê Phan .

9.     https://noralangdu.blogspot.com/2018/02/tien-si-truong-cong-hieu-nguoi-canada.html Tiến sĩ Trương Công Hiếu, người Canada gốc Việt đầu tiên được trao tặng huy chương Order Of Canada - Sunday, February 25, 2018 - Nguồn: Thời Báo .

10.  http://caodanghoahoc.net/tin-tuc/thay-truong-cong-hieu-duoc-vinh-danh-order-of-canada-13.html Thầy Trương Công Hiếu Được Vinh Danh Order Of Canada - GDHH xin đăng lại bài viết về TS Trương Công Hiếu được vinh danh Order of Canada trên trang của Cộng đồng người Việt ở Ottawa.

 

 

 

12 - Trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật – Quận 10-Sài g̣n & Thủ Đức-Gia Định

 

TM xin trân trọng đề tặng bài này đến bạn hiền Huỳnh Kim Quang , cựu học sinh lớp Đệ Nhứt 5-niên khóa 1971 trường trung học  Kỹ Thuật Cao Thắng Sàig̣n và cựu sinh viên trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật-Phú Thọ.

 

Trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật là hậu thân của Ban Cao Đẳng Sư phạm Kỹ thuật  thành lập vào năm 1962 trong khuôn viên Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật - Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Ḥa ,ở khu Phú Thọ , đường Nguyễn Văn Thoại và  đường Tô Hiến Thành,thuộc phường Nguyễn Tri  Phương,Quận 10-Sàig̣n. Đến năm 1972, Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ thuật   dời về Thủ Đức,tỉnh Gia Định.

Sau đây là sơ lược thành lập Trường  Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật :

Theo tài liệu [1,2] : Tiền thân của trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật là Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật thuộc trường Bách Khoa Phú Thọ, được thành lập ngày 05 tháng 10 năm 1962 theo quyết định số 1082/GD của Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa.

Nhưng theo tài liệu [3,4] :  Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật  trực thuộc Nha Kỹ Thuật và Chuyên Nghiệp Học Vụ.

Theo tài liệu [5] :  Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật được thành lập năm 1962 đặt tại Trường Bách Khoa Trung Cấp Phú Thọ.

Dấu hiệu (logo) Trường Cao Đẳng  Sư Phạm Kỹ Thuật năm 1962- H́nh trích từ tài liệu [6] 

Theo tài liệu [3] : Đến năm 1960, Trường Bách Khoa Trung Cấp trong khuôn viên Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ xây cất xong, thu nhận khóa đầu tiên theo học, gồm học sinh các Trường Cao Thắng và Thực Nghiệp thi tuyển vào.

Năm 1962, dưới thời kỹ  sư Nguyễn Được làm Giám Đốc Nha Kỹ Thuật Học Vụ, Ban Cao Đẳng Sư Phạm được thành lập.

Ban này do ông Trần Lưu Cung, kỹ  sư viễn thông, Phụ tá Giám Đốc Nha Kỹ Thuật Học Vụ làm Giám Đốc Ban này, kiêm Giám Đốc Trường Bách Khoa Trung Cấp.

 Ban Cao Đẳng Sư Phạm dùng chung cơ sở của Trường Bách Khoa Trung Cấp để đào tạo Giáo sư Chuyên Nghiệp Đệ Nhất và Đệ Nhị Cấp, gồm các Ban: Khoa Học Áp Dụng, Kỹ Nghệ Họa, Máy Dụng Cụ, Điện Lạnh, Điện tử, Kỹ Nghệ Sắt, Kỹ Nghệ Gỗ ;

Theo tài liệu [1] : Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật vào lúc ban đầu (năm 1962), đào tạo 4 ngành : Khoa học ứng dụng , Chuyên nghiệp (ô tô, điện, chế tạo máy, đúc, kỹ nghệ gỗ, gốm, sơn mài…) , Kỹ nghệ họa , Thương mại, tiểu công nghệ và kinh tế gia đ́nh.

Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật là hệ Cao Đẳng như Cao Đẳng Công Chánh, Cao Đẳng Điện, Cao Đẳng Hóa Học, chuyên đào tạo Trung cấp và Đại Học, nhưng Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật không chính thức là một Trường Cao Đẳng, nó chỉ là Ban Cao Đẳng, trực thuộc Nha Kỹ Thuật Học Vụ, sinh viên tốt nghiệp 2 năm, chỉ số 320 và tốt nghiệp 4 năm, chỉ số 480.

Muốn vào học Ban  Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật , thí sinh phải có bằng Tú Tài  2 Kỹ Thuật và qua một cuộc thi tuyển khó khăn, chật vật . 

Niên khóa đầu tiên là niên khóa 1962-1963.

Một cựu sinh viên, tác giả tài liệu [3], được nhận vào năm thứ nhứt Ban  Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật vào năm  1963 hay 1964, đă viết như sau : 

‘’ Năm đầu tiên, tôi học Toán với giáo sư Vũ Mộng Hà, Anh Văn giáo sư Phạm Văn Rao, vốn là giáo sư Cao Thắng, Công tác Xưởng học Kỹ Nghệ Gỗ với giáo sư Trần Minh Hoàng, Cơ Học kỷ sư Tôn Thất Tiêu, Kỹ Nghệ Họa 20 giờ/tuần học với kỷ sư Trần Thế Can, hồi ở Cao Thắng,tôi đă học với ông về Kỹ Nghệ Họa 5 giờ/tuần và Đại số .

(Phụ chú : Vài hàng về giáo sư Vũ Mộng Hà

Giáo sư Vũ Mộng Hà đậu cử nhân toán năm 20 tuổi (thông thường là 22),dạy Toán từ năm 1961.

Hai giai thoại về  thầy Vũ Mộng Hà ở trường Cao Thắng  trích từ tài liệu [7]    :

·        ‘’ Ngày Thầy đi dạy đầu tiên bị gác dan và giám thị không cho Thầy vào trường, Thầy phải nhắn mời Giám học ra đưa Thầy vào, chỉ v́ Thầy đi dạy c̣n rất trẻ có dáng thư sinh ‘’ Trói gà không chặt ‘’, giám thị nghĩ Thầy là học sinh không mặc đồng phục, nên không cho vào trường, từ đó về sau Thầy Hà đi dạy phải thắt cà vạt để cho giám thị phân biệt;

·        Thầy Hà có trí thông minh tuyệt vời. Thầy dạy Toán, Lư Hóa Đệ Nhất.Đang đọc bài cho học sinh chép, chuông reo hết giờ, Thầy bỏ ra  khỏi lớp, tuần sau đọc tiếp cho học sinh chép. Bài tập Thầy chấm xong trả lại cho học sinh, sau đó chỉ gọi vài học sinh để ghi điểm, những học sinh khác Thầy ghi theo trí nhớ ’’.

 

 

Hiệu Trưởng trường Cao Thắng,ông Cao Thanh Đảnh (kỹ sư) ngồi giữa giáo sư Phạm Doăn Đương và Vũ Mộng Hà (ngồi bên trái Hiệu Trưởng)- Ông Đảnh làm Hiệu Trưởng năm 1961- Vậy th́ h́nh này có thể được chụp vào năm 1961 hay sau đó

 

Thầy Vũ Mộng Hà và học sinh Nguyễn Xuân Thới- năm chưa xác định được-H́nh trích từ tài liệu [7]

TM, tác giả  bài này, năm 1971, học đệ nhất ban kỹ thuật toán  trường kỹ thuật Cao Thằng có diễm phúc và may mắn được học cua (cours) Toán : H́nh học, Đại số giải tích với thầy Vũ Mộng Hà. TM c̣n nhớ tạng người Thầy mảnh khảnh nhưng Thầy di chuyển rất mau lẹ.Trên bục giảng, trước bản đen,Thầy rất linh động. Phương pháp giảng dạy Toán của Thầy rất dễ hiểu,dễ hấp thụ đến nổi nhiều học sinh bạn ở các lớp đệ nhất kế bên, học toán với các thầy khác, thường qua ngồi học ké.Thầy thường chấm dứt các bài giảng  bằng câu Hết vừa đúng lúc kẻng trường đổ chuông chấm dứt lớp.

Ngoài ra TM  c̣n nhớ tới ngày nay : Vào những năm 1969-1971 (hay trước và sau đó), giáo sư  Vũ Mộng Hà dạy Toán, Lư Hóa cho các lớp luyện thi Tú Tài Đôi (2) ở các trường trung học tư thục như trường Trường Sơn và các lớp luyện thi vào các phân khoa Đại học và các trường Cao Đẳng Phú Thọ, Kiến Trúc…

Đến năm 1981,Thầy vượt biên qua Poulo Bidong (Mă Lai) và định cư tại Hoa Kỳ. Vào năm 2016, Thầy là  cư dân Westminster, tiểu bang California, Hoa Kỳ ).

 

Theo tài liệu [3] : ‘’ Tôi không nhớ rơ lắm, nhưng mỗi tuần chúng tôi học chừng 40 giờ và mỗi sinh viên đường nhiên có học bổng hàng tháng một ngàn đồng.

Những ngày đầu, kể cả tôi, gồm có 9, 10 người theo học, trong đó có một số lại đỗ vào Kỹ sư Công nghệ. Ai cũng muốn học kỷ sư, nhưng theo học kỷ sư mất 4 năm, c̣n Ban Kỹ Nghệ Họa chúng tôi năm đó chỉ lấy 10 người, học 2 năm, mỗi tháng đều có học bổng, cho nên có người học vài ngày rồi bỏ để theo học Kỷ sư Công nghệ, riêng chỉ có anh Nguyễn Văn Bài bỏ kỷ sư, theo học sư phạm; theo tôi, anh v́ hoàn cảnh gia đ́nh .

Trước khi chúng tôi vào học, Ban Kỹ Nghệ Họa có đến 2 giáo sư của Trường Đại Học Southern Illinois University, gọi tắc là phái đoàn SIU, sang dạy . Lúc chúng tôi mới vào học, 2 giáo sư này hết hạn, đang chuẩn bị về nước, riêng Xưởng Kỹ Nghệ Gỗ vẫn c̣n một giáo sư cố vấn Mỹ.

Trong môn chính học Kỹ Nghệ Họa, ngoài việc học vẽ, kỹ thuật học, chúng tôi c̣n phải dịch các tài liệu kỹ thuật từ sách báo Mỹ ra Việt Văn, sau khi dịch xong, in Ditto ra phát cho mỗi người một bản để người dịch tŕnh bày và cả lớp cùng thảo luận, một là nhằm mục đích tập cho sinh viên dịch tài liệu, hai là tập thuyết tŕnh cũng là hai thứ chánh yếu cần thiết để giảng dạy sau này .

Năm thứ hai, chúng tôi học Kỹ Nghệ Họa với kỹ sư Nguyễn Năng Cường, Anh Văn với giáo sư Nguyễn Hoàng Trinh, Máy Dụng Cụ với giáo sư Nguyễn Văn Giáp, Toán với kỹ sư Trần Lưu Cung, Cơ Học cũng với giáo sư Tôn Thất Tiêu, Sư Phạm với Thanh Tra Văn Văn Đây .

Trong các nữ sinh viên Ban Sư Phạm Kỹ Thuật thời đó, h́nh như có người đẹp Hoàng Lan sau kết duyên với Trưởng Ty điện lực Tây Ninh ? Cô Huyền tên xứng danh với nước da của cô, cũng nổi tiếng v́ có duyên hơn là đẹp.

Mỗi sinh viên Ban Cao Đẳng Sư Phạm ra Trường đều có làm một Luận án tốt nghiệp. Luận án của tôi tŕnh bày về Bánh xe răng khoảng 30 trang đánh máy ‘’.

Mặt tiền Trường Bách Khoa Trung Cấp Phú Thọ, Sàig̣n ,cũng là Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ  Thuật- Sinh viên Huỳnh Ái Tông và  Nguyễn Văn Bài – H́nh trích từ tài liệu tài liệu [3] :

Phía sau Trường Bách Khoa Trung Cấp Phú Thọ, Sàig̣n – Sinh viên Lương Văn Nhơn, Phạm Văn Đước, Huỳnh Ái Tông, Nguyễn Đức Lộc Bài – H́nh trích từ tài liệu tài liệu [3]

Theo tài liệu  [5] :  Năm 1969, Trường  trung học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ  nằm trên đường Hồng Thập Tự- quận 1, bị giao cho Ṭa Đại Sứ Mỹ,láng giềng có chung tường với Trường,  nên dời về ở tạm trong khuôn viên Nha Kỹ Thuật Học Vụ.

V́ vậy, vào năm 1969 , chánh phủ Việt Nam Cộng Ḥa đă giải tỏa khu nghĩa địa rộng lớn diện tích trên 10 mẫu ở Thủ Đức để cất Trung Tâm Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ, gồm có một giảng đường nối liền với pḥng hành chánh, thư viện, bốn dăi lớp học, một số xưởng và bốn dăi kư túc xá với một nhà Hiệu Trưởng.

Cơ sở này do Mỹ viện trợ với phần lớn đội ngũ giáo sư được đào tạo tại Hoa Kỳ . Nhà, xưởng, lớp học khang trang, trang thiết bị đầy đủ đáp ứng nhiệm vụ đào tạo cho khoảng 500 sinh viên. Công ty  Đại Hàn trúng thầu xây cất, khởi thủy Trung Tâm Nguyễn Trường Tộ gồm Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật (Phú Thọ) và  Trường trung học Nguyễn Trường Tộ sáp nhập lại ( theo tài liệu [8] ) .

Đến năm 1972 , Trung Tâm Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức  được khánh thành.  

Như thế măi đến năm 1972, Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật mới có cơ sở riêng ở Thủ Đức với tên  mới là Trung Tâm Giáo Dục Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ.

Theo tài liệu [1]  cũng viết tương tự như trên : Năm 1972, Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật được đổi tên thành Trung tâm Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức .

Tính đến năm 1972, Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật (Phú Thọ) đă đào tạo được 9 khóa và số sinh viên từ khóa 1 đến khóa 9 tốt nghiệp là 445 người.

Cũng xin ghi thêm là theo tài liệu [5]   : Ngày  bàn giao cơ sở Trung Tâm Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức ,  ông Phan Kim Báu đại diện nhận ch́a khóa trường trung học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ.  Trường rất đẹp, đầy đủ tiện nghi máy móc, nhưng v́ nằm xa trung tâm Sàig̣n nên các giáo sư  trường Nguyễn Trường Tộ đồng ư giao Trường này cho Trung Tâm Giáo Dục Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ.

 

Toàn cảnh Trường  Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật  ở Thủ Đức- H́nh trích từ tài liệu [2]

 

Lễ khánh thành cơ sở mới Thủ Đức vào ngày 04 tháng 5 năm 1973 và ngày khai giảng đầu tiên tại cơ sở này  cho năm học 1972-1973  là ngày 12 tháng 11 năm 1973.

Trung Tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ - H́nh trích từ tài liệu [1]

 

Lễ khai giảng niên khóa 72-73  - H́nh trích từ tài liệu [2] 

Đường vào cổng trường-H́nh trích từ tài liệu [2] 

 

Sinh viên đến trường-H́nh trích từ tài liệu [2] 

Theo tài liệu [4] : Trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật đào tạo các giáo chức dạy các môn kỹ thuật cho các trường Sư Phạm Kỹ Thuật Trung Cấp. Trường có các ngành về Khoa Học Ứng Dụng, Khoa Học Chuyên Nghiệp, Kỹ Nghệ Họa, Thương Mại và Tiểu Công Nghệ.

Theo tài liệu [1] :  Nhiệm vụ của Trung Tâm là đào tạo giáo sư  đệ nhất cấp (giáo sư  dạy nghề), thời gian đào tạo 2 năm và giáo sư  đệ nhị cấp (giáo sư kỹ thuật), thời gian 4 năm.

Niên khoá đầu tiên 1972-1973, Trung Tâm gồm có các khoa : Khoa Học Ứng Dụng , Máy dụng cụ , Cơ khí ô tô và Diesel , Kỹ nghệ sắt , Kỹ Nghệ Họa , Kinh Tế Gia Đ́nh , Kỹ Nghệ Gỗ , Gốm , Điện Kỹ Nghệ , Điện tử  với tổng cộng 120 sinh viên.

Theo tài liệu [8] : Ông Trần Minh Hoàng, Phó Giám Đốc Nha Kỹ Thuật Học Vụ, đi du học ở Mỹ, có bằng Master, sau khi về nước, năm đầu tiên ông dạy Kỹ Nghệ Gỗ ở Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật,

 

Nữ sinh viên Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật   - H́nh trích từ tài liệu [2] 

 

Cơ sở  Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật - H́nh  trích từ tài liệu [2] 

 

Giờ Thực Hành môn Hóa học, Nữ công gia chánh, Kỹ nghệ sắt …H́nh trích từ tài liệu [2] 

Giờ học Nữ Công, Toán,Điện tử, Kỹ nghệ sắt -  H́nh trích từ tài liệu [2] 

Theo tài liệu [3] : Năm 1964,  Ban Nữ Công Gia Chánh và Thương Mại  được mở  trong  Trường Bách Khoa Trung Cấp.

Giờ Thực Hành chế tạo -  H́nh trích từ tài liệu [2] 

Giờ Thực Hành môn Động cơ, Điện tử, Kỹ nghệ sắt và Kỹ nghệ họa-H́nh trích từ tài liệu [2] 

Giờ Thực Hành môn Cơ khí,Tiện Nguội-  H́nh trích từ tài liệu [2] 

 

Văn nghệ Tất Niên 73-74 - H́nh trích từ tài liệu [2] 

Sinh viên làm vườn, trồng bông - H́nh trích từ tài liệu [2] 

Quang cảnh trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức trước năm 1975 -  H́nh trích từ tài liệu [1] 

Theo tài liệu [1] : Tại Trung Tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật : Có  2 khoá  10 và 11  với  177 sinh viên tốt nghiệp .

Như vậy trong 13 năm hoạt động (1962-1974) , Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật (Phú Thọ)   và Trung Tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức đă đào tạo được 11 khoá với tổng cộng 622 sinh viên tốt nghiệp bao gồm : 136 giáo sư trung học kỹ thuật đệ nhị cấp; 486 giáo sư trung học kỹ thuật đệ nhất cấp.

 

Chứng chỉ tốt nghiệp Giáo sư Chuyên nghiệp đệ nhị cấp năm 1971 – H́nh trích từ tài liệu  [4] 

 

Theo tài liệu [1] : Trong thời gian này ,Trung Tâm có khoảng 70 giáo sư và 500 sinh viên, trong đó số giáo sư chính thức chỉ có 14 người, số c̣n lại là mời giảng .

Kỹ sư Viễn Thông, Trần Lưu Cung, Phụ tá Giám Đốc Nha Kỹ Thuật Học Vụ ,làm giám đốc Ban  Sư Phạm Kỹ thuật (1962-1968); kế đó là thầy Nguyễn Thuỵ Ái (1968-1970) và sau cùng là thầy Lê Đ́nh Viện (1970-1972).

(Phụ chú : Ông Lê Đ́nh Viện, Master of Education ,làm  hiệu trưởng trường trường Kỹ Thuật Cao Thắng từ năm 1965 đến năm 1967  ).

Mặc Veston từ trái sang phải: Giáo sư  Nguyễn Khánh Nhuần, hiệu trưởng Lê Đ́nh Viện, giám học Phan Văn Long, giáo sư  Dương Khắc Long, giáo sư  Trần  Văn Đặng, tổng giám xưởng Lưu Luân Trọng

Xem thêm chi tiết trong bài Trường trung học ở Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975 - Trường Kỹ Thuật Cao Thắng của cùng tác giả ).

 

Giáo sư Dương Văn Yến làm Giám đốc đầu tiên của Trung Tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức.

Năm 1972, thầy Dương Văn Yến qua đời, thầy Ngô Đ́nh Duyên (Duy ?)  kế nhiệm chức vụ Giám đốc Trung Tâm Cao đẳng Sư Phạm Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức 1972-1975) .

Những vị giám đốc  cùng toàn thể nhân viên giảng dạy kể từ khi thành lập trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật năm 1962 đến năm 1974 là những người có công lao to lớn xây dựng nền móng đầu tiên, khai sáng sự nghiệp sư phạm kỹ thuật của miền Nam Việt Nam.

Đến niên khóa 1973-1974, Trung Tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức  kết hợp với một số trường Cao Đẳng của Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ để trở thành Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức dưới sự điều khiển trực tiếp của Bộ Văn Hóa Giáo Dục.

Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức gồm có 7 trường đại học thành viên, trong đó có 3 trường đă tồn tại  và hoạt động riêng rẽ trước đó ( đánh số 1, 2 vả 3)  và 4 trường mới (đánh số 4,5,6,và 7) : 

1.     Trường Đại học Kỹ Thuật : Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ (1957), bao gồm Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Điện Lực, Trường Kỹ Sư Công Nghệ, và Trường Việt Nam Hàng Hải ;

2.     Trường Đại học Nông nghiệp: Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Nông-Lâm-Súc, rồi Học viện Quốc gia Nông Nghiệp (1972) ;

3.     Trường Đại học Giáo dục: Tiền thân là Trung tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức ;

4.     Trường Đại học Kinh Thương ("Kinh Thương" là viết tắt của "Kinh tế và Thương mại");

5.     Trường Đại học Khoa học Cơ bản ;

6.     Trường Đại học Thiết Kế Thị Thôn ("Thị Thôn" là viết tắt của "Thành thị và Nông thôn");

7.     Trường Sau Đại học (tiếng Anh: College of Graduate Studies), điều phối các chương tŕnh đào tạo bậc Cao Học và  Tiền Sĩ.

Giáo sư Nguyễn Thuỵ Ái là Khoa trưởng  đầu tiên của viện Đại Học này (và cũng là khoa trưởng cuối cùng) .

(Xem thêm chi tiết trong bài Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức  của cùng tác giả).

Rất tiếc, miền Nam sụp đổ ngày 30/4/1975 kéo theo sự tan vỡ của một kế hoạch phát triễn đại học theo hướng của các quốc gia tân tiến.

 

Sau năm 1976 ,Trường bị đổi tên thành trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức theo quyết định số 426/TTg ngày 27.10.1976 của  ngụy quyền cộng sản .

Tài liệu tham khảo :

1.     file:///C:/Users/tuymai/Documents/Tuy%20Documents/Cao%20Dang-TAI%20LIEU/Su%20pham%20ky%20thuat%20-1.pdf 2 – Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh 50 Năm Xây Dựng và Phát Triển Bền Vững.

2.     https://www.facebook.com/media/set/?set=a.500393113305488&type=3  Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật ngày xưa -  24/09/2012.

3.     https://ahvinhnghiem.org/caodangspkt.html Trường tôi ( 2 ) - Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật -21-2-2009 .

4.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Cao_%C4%91%E1%BA%B3ng_C%C3%B4ng_ch%C3%ADnh Y Nguyên Mai Trần - Chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp ở miền Nam trước 1975.

5.     https://ahvinhnghiem.org/CaoThang/TroVeTruongXua.html - Trở về Trường xưa.

6.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_S%C6%B0_ph%E1%BA%A1m_K%E1%BB%B9_thu%E1%BA%ADt_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh .

7.     https://sites.google.com/site/truongkythuatcaothang/mucluc - Huỳnh Ái Ṭng-Trường Tôi (1)- Louisville, ngày 31 tháng 3 năm 2001 .

8.     Huỳnh Ái Tông - Tản Mạn Về Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ .

 

 

13 - Trường Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc – Quận 1- Sài g̣n

Trường Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc  được thành lập  bởi Nha Học Vụ Nông Lâm Súc vào năm 1963 hay 1966  để đào tạo giáo sư đệ nhất và đện nhị cấp   chuyên nghiệp  ngành Nông Lâm Súc .Đặc biệt là trường  này có tên hiệu nhưng  không có trường sở bất động sản, v́ vậy không có địa chỉ .

(Xem thêm chi tiết về Nha Học Vụ Nông Lâm Súc trong Phụ đề 1) .

Sau đây là sơ lược việc thành lập trường Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc :

Theo tài liệu [1] : Từ năm học 1963-1964, năm đầu tiên của chương tŕnh trung học Nông Lâm Súc (NLS)  đến năm học 1973-1974, số trường trung học Nông Lâm Súc tăng từ 3 lên 12 trường đệ nhị cấp, 28 trường đệ nhất cấp, và 3 trung tâm canh mục sắc tộc .

(Xem thêm Sơ Lược Tổ Chức  Giáo Dục Trung Học Nông Lâm Súc trong Phụ đề 2).

Trong giai đoạn đầu, phần lớn giảng viên trường Nông Lâm Súc là những kỹ sư hoặc kiểm sự chưa được huấn luyện sư phạm tại các trường đào tạo giáo chức.

Để cung cấp giáo sư chuyên nghiệp cho các trường trung học Nông Lâm Súc , từ năm học 1966-1967, Nha Học Vụ Nông Lâm Súc hằng năm mở các khóa cấp tốc đào tạo giáo sư  đệ nhất cấp, và từ năm học 1970-1971 mở các khóa cấp tốc đào tạo giáo sư đệ nhị cấp .

Tuy nhiên theo tài liệu [2] : Giáo sư, Bác sĩ Thú Y, Đặng Quan Điện  khai sinh ngành Sư phạm NLS đào tạo giáo sư dạy trung học đệ nhất cấp  và đệ nhị cấp, đă đào tạo được 7 khoá (1963-1974).

(Phụ chú : Vậy th́ theo tài liệu [2] , các lớp đào tạo giáo sư chuyên nghiệp cho các trường trung học Nông Lâm Súc đă được bắt đầu từ năm 1963, trước năm 1966 như đă viết trong tài liệu [1] ).

 

 1 . Đào tạo giáo sư trung học đệ nhất cấp Nông Lâm Súc

Khóa đầu tiên mở vào năm học 1966-1967, theo nghị định số 472 - GD/PC/NĐ ngày 22 tháng 3 năm 1967, gồm các ban: Canh Nông, Mục Súc, Thủy Lâm, Ngư Nghiệp, Công thôn, và Sinh Hoạt Gia Đ́nh.

Theo tài liệu [3] : Những ban này tăng hay giảm tùy  nhu cầu công vụ và khả năng ngân sách.

Thí sinh dự thi phải có Tú Tài 2 Nông Lâm Súc hoặc văn bằng tốt nghiệp kiểm sự.

Thời gian đào tạo (giáo sư trung học đệ nhất cấp) là 12 tháng, gồm 9 tháng học lư thuyết ở trường và  3 tháng thực tập :  2 tháng tập sự tại các cơ sở chuyên môn, 1 tháng thực tập tại các trường trung học Nông Lâm Súc  và vùng nông thôn liên hệ.

1-1. Chương tŕnh học gồm 2 phần:

- Các môn chung về sư phạm và quản trị cho tất cả các ban: 300 giờ lư thuyết và 200 giờ thực hành, chiếm 40% tổng số giờ học ;

- Các môn chuyên môn riêng cho từng ban, chiếm 60% tổng số giờ học.

Từ năm học 66-67 đến năm học 71-72 đă mở được 6 khóa, đào tạo 553 giáo sư trung học đệ nhất cấp NLS.

Nhưng kể từ năm học 72-73, theo nghị định số 33 VHGDTN/NLS/NĐ ngày 10 tháng 01 năm 1974 thời gian đào tạo (giáo sư trung học đệ nhất cấp)  là 2 năm.

1-2. Điều kiện nhập học:

 - Quốc tịch Việt Nam;

- Nam phải hợp lệ t́nh trạng quân dịch;

- Có văn bằng Tú Tài Nông Lâm Súc;

- Qua 2 kỳ thi: thi viết, thi khảo hạch .

Hơn nửa ,theo tài liệu [3] :

Nam sinh viên từ 18 - 22 tuổi ;

Nữ sinh viên  từ 18 – 24 tuổi;

Ứng viên công chức có thể lùi lại số năm bằng số năm tiền công vụ nhưng không được quá 5 năm;

Các ứng viên sắc tộc có hạn tuổi 18-24 ;

Có một trong các văn bằng sau đây :

Tốt nghiệp cấp trung đẳng trường Quốc gia NLM Blao (cấp Kiểm Sự) . Trong trường hợp không có đủ ứng viên , cấp kiểm sự sẽ mở kỳ thi tuyển những người có tú tài toàn phần Kỹ thuật NLS để chọn thêm đủ số ấn định ;

Chương Tŕnh thi : Chương tŕnh lớp 10-11-12 Trung học NLS và sau cuộc thi thực hành diễn giảng.

1-3. Quá tŕnh đào tạo:

 Giữa 2 năm học có kỳ thực tập hè. Tổng số giờ toàn khóa là 1.920 giờ gồm :

 - Sư phạm: 540 giờ ( 330 giờ lư thuyết + 210 giờ thực hành), chiếm 28% ;

- Ngoại ngữ: 60 giờ ;

- Khoa học cơ bản: 420 giờ ;

- Chuyên môn: 900 giờ .

 Số giờ học lư thuyết và thực hành của các môn khoa học cơ bản và chuyên môn thay đổi tùy theo ban (theo chương tŕnh đào tạo giáo sư trung học đệ nhất cấp Nông Lâm Súc) :

 

BAN                                       Khoa học                                          Cơ bản                                          Chuyên  môn

                                            Lư thuyết                                       Thực hành    Lư thuyết  Thực Hành                                             

Canh nông                                         300 giờ                                         120 giờ                                              585 giờ                                    315 giờ

Mục súc                                         300 giờ                                         120 giờ                                              525 giờ     375 giờ

Công thôn                                         300 giờ                                         120 giờ                                              435 giờ                                     465 giờ

Sinh hoạt gia đ́nh                                         270 giờ                                         150 giờ                                              360 giờ                                      540 giờ

 

Các lớp học được tổ chức ngay tại trụ sở Nha Học Vụ Nông Lâm Súc (địa chỉ số 9 đường Mạc Đỉnh Chi ,Quận 1-Sài g̣n ) , gồm một số pḥng học lư thuyết, không có pḥng thí nghiệm. Các nhân viên giảng huấn và hành chính gồm những nhân sự tại Nha Học Vụ NLS và một số giảng viên thỉnh giảng.

 

1-4. Học bổng và phúc lợi :

 Giáo sinh được hưởng nguyệt cấp 1.800 đồng  và theo chế độ ngoại trú.

Hơn nửa ,theo tài liệu [3] : Trong khi theo học : Sinh viên có thể được cấp học bổng 1800 đồng/ tháng trong suốt 12 tháng và được chuyên chở miễn phí trong các cuộc đi thực tập, tập sự, nghỉ hè, Tết.

(Phụ chú :  Theo tài liệu  [4]  : Các sinh viên trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (Sàig̣n)  được cấp học bổng toàn phần 1.500 $ đồng/tháng và bán phần 750$ đồng/tháng . Và theo tài liệu [5] , số tiền học bổng mà sinh viên Đại Học Sư Phạm - Viện Đại Học Sài g̣n lảnh  từ khoảng năm 1960/1961 là 1.500 $VN/tháng và và đến năm 1970 là 3.000 $ đồng /tháng . Như thế, sinh viên trường Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc , trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sàig̣n và  sinh viên Đại Học Sư Phạm lảnh số tiền  học gần giống nhau . Các số tiền học bổng cấp này rất là hậu hỉnh bởi v́ theo tài liệu  [6] , vào khoảng năm 1965, một công chức chính ngạch hạng A mới tốt nghiệp đại học, lương căn bản khoảng 6.700 đồng).

 

1-5. Điều kiện tốt nghiệp :

 Trong 2 năm học, giáo sinh có điểm trung b́nh các môn học từ 12/20, soạn 12 đề tài diễn giảng, bốc thăm thi thực hành một đề tài. Điểm tốt nghiệp tính theo điểm trung b́nh cả hai năm học, điểm tập sự và điểm thi cuối khóa.

 

Thống kê giáo sinh Ban Cao đẳng Sư phạm NLS:                       

Khóa học            Số tốt nghiệp                           Ghi chú

1 (1966-67)         25                            

2 (1967-68)         75                            

3 (1968-69)         110                            

4 (1969-70)         114                            

5 (1970-71)         116                            

6 (1971-72)         115                            

7 (1972-74)         85

Năm 1974 đang học .

 

Khóa                        CN                                MS                                CT                                SHGĐ                                Tổng cộng

7 (năm thứ 2)          29        27                                14        15                                85

8 (năm thứ 1)          33        32                                15        15                                95

Tổng cộng               62        59                                29        30                                180

(thống kê theo Danh sách giáo sinh trong Kỷ yếu Nông Lâm Súc 1974. trang 12-13 - Nha Học Vụ Nông Lâm Súc: Kỷ yếu Nông Lâm Súc 1974 ).

 

1-6 Số sinh viên tốt nghiệp theo ban chuyên môn:

Năm (tốt nghiệp)        GS TH ĐIC

             CN      TL       MS      NN        CT      KTGĐ

1967    9                     11            3

1968    30        8         29           8

1969    33      15         25          19         17

1970    34                   27          19         14          20

1971    30                   29          17         19          21    

           136     23       121         66          50          41

Tổng cộng      437

Ghi chú:  GS TH ĐIC : Giáo sư trung học đệ nhất cấp – CN : Canh nông – TL : Thủy lâm – MS : Mục súc - NN:  Ngư Nghiệp - CT: Công thôn – KTGĐ : Kinh tế gia đ́nh 

 

1-7. Lương bổng -ngạch trật

Theo tài liệu [3] : Sau khi tốt nghiệp: Sinh viên được bổ dụng làm giáo sư trung học đệ nhất cấp ngành NLS hạng 5 với chỉ số 380 ;

Riêng đối với Sinh viên công chức sẽ được bổ dụng làm giáo sư trung học NLS với Trật có chỉ số lương liền trên chỉ số lương trong ngạch cũ và mất hết thâm niên trong ngạch cũ nếu chỉ số được tăng từ 20 điểm trở lên.

 

1-8. Các Trưởng Ban Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc:

 - 1966-68 : Ô. Trần Thiện Chu, giảng sư, Ms. in Animal Husbandry ;

- 1968-70 : Ô. Nguyễn Thanh Vân, kỹ sư Súc khoa;

- 1970-72 : Ô. Phạm Phi Hoành, giảng nghiệm viên, Bs in Agr. Engineering;

- 1972 : Ô. Đặng Hữu Thạt, kỹ sư Điện tử.

 

 Ban giảng huấn:

 1. Cơ hữu:

Ban Canh nông:

 - Cô Vơ Thị Thúy Lan, giảng nghiệm viên, kỹ sư nông khoa;

- Ô. Nguyễn Hoàng Sơn, giảng sư, Master of Agriculture;

- Ô. Nguyễn Hoài Đỉnh, giảng nghiệm viên, Bs in Agri. Education;

- Ô. Vũ Quốc Dũng, Bs in Agri. Education;

- Ô. Lê Châu Long, giảng nghiệm viên, Bs in Agri. Education.

Ban Mục súc:

 - Ô. Vương Quan Phước, bác sĩ Thú y;

- Ô. Nguyễn Tuấn, bác sĩ Thú y;

- Ô. Trần Hiệp Nam, giảng sư, Ms in Animal Husbandry;

- Ô. Trần Thiện Chu, giảng sư, Ms in Animal Husbandry;

- Ô. Nghiêm Xuân Thịnh, giảng sư, Ms in Animal Husbandry;

- Ô. Huỳnh Kim Ngọc, giảng nghiệm viên, kỹ sư Súc khoa;

- Ô. Vũ Đ́nh Chính, bác sĩ Thú y;

- Bà Dương Thị Tuấn Ngọc, kỹ sư Súc khoa.

 Ban Ngư nghiệp:

 - Ô. Hứa Văn Túc, giảng nghiệm viên, kỹ sư Thủy lâm;

 Ban Công thôn:

 - Ô. Đặng Hữu Thạt, kỹ sư Điện tử;

- Ô. Vũ Hùng Chương, kỹ sư Điện;

- Ô. Đặng Ngọc Sơn, kỹ sư Điện;

- Ô. Phạm Phi Hoành, giảng nghiệm viên, Bs in Agri. Engineering.

Ban Sinh họat gia đ́nh:

 - Bà Đỗ Ngọc Liên, Bs in Home Economic .

Ban Khoa học cơ bản:

 - Ô. Nguyễn Trọng Khôi, dược sĩ;

- Ô. Lâm Quan Tườn, dược sĩ;

- Ô. Đinh Quang Trọng, dược sĩ;

 

 2. Thỉnh giảng:

 - Ô. Bùi Như Hùng, kỹ sư, giảng sư Nông học;

- Ô. Châu Tâm Luân, PhD. ;

- Ô. Nguyễn Kim Môn, kỹ sư Khí tượng ;

- Ô. Đặng Quan Điện, bác sĩ Thú y ;

Theo tài liệu  [2] : Giáo sư Đặng Quan Điện dạy môn Phương Pháp  giảng dạy Nông trại            thực hành (1967-1975), Giáo dục nông nghiệp (1972-1975).

- Ô. Vũ Ngọc Tân, bác sĩ Thú y ;

- Ô. Hà Văn Mơí, kỹ sư Súc khoa;

- Ô. Đinh Khang Hoạt, Bs Mech. Eng. ;

- Ô. Nguyễn Ngọc Châu, kỹ sư Nha Nông cụ .

- Ô. Hoàng Đ́nh Gia, kỹ sư Nông cụ;

- Ô. Nguyễn Như Mộng, kỹ sư Nông cụ ;

- Ô. Nguyễn Văn Hồng, Kỹ sư Nông cụ;

- Ô. Lư Thi Nghĩa, kỹ sư Thủy lâm;

- Ô. Lê Văn Đằng, kỹ sư Thủy lâm;

- Ô. Ngô Bá Thành, bác sĩ Thú y;

- Ô. Trần Văn Trí, cử nhân Luật;

- Ô. Huỳnh Trung Hạt, kỹ sư Súc khoa;

- Bà Nguyễn Thị Nữ, giáo sư trung học;

- Bà Phùng Thị Bách, giáo sư trung học;

- Bà Nguyễn Ngọc Anh, kỹ sư Canh nông;

- Bà Nguyễn Thị Tần, giáo sư trung học;

- Cô Trần Huệ Dung, giáo sư trung học;

- Ô. Nguyễn Sơn Hà, giảng nghiệm viên khoa học;

- Cô Nguyễn Thị Thanh Xuân, giảng nghiệm viên khoa học;

 

2. Đào tạo giáo sư trung học đệ nhị cấp Nông Lâm Súc

 Khóa cấp tốc mở vào năm học 1970-1971 tại Nha Học Vụ Nông Lâm Súc, đào tạo giáo sư trung học đệ nhị cấp NLS.

Khóa 2 và khóa 3 mở tại Trường Đại Học Nông Nghiệp Sài G̣n gồm các ban: Canh Nông, Mục Súc, Ngư Nghiệp, Công Thôn, Thủy Lâm, Lư Hóa Nhiên.

Thí sinh dự thi phải có văn bằng kỹ sư (đối với các ban chuyên môn) hoặc cử nhân giáo khoa khoa học (đối với ban Lư Hoá Nhiên). Thời gian học là 12 tháng gồm 10 tháng học lư thuyết và thực hành, 2 tháng tập sự tại các trường trung học NLS và vùng nông thôn liên hệ.

 Chương tŕnh học gồm 2 phần:

- Các môn chung về sư phạm và quản trị cho tất cả các ban, chiếm 70% tổng số giờ học;

- Giảng dạy bộ môn (riêng từng ban) chiếm 30% tổng số giờ học ;

 

Nội dung                                             Lư thuyết         Thực hành

Các môn sư phạm và quản trị            420 giờ           290 giờ

Giảng dạy bộ môn                             200 giờ           100 giờ

 

Ngoài 3 khóa cấp tốc (kể trên ?) , từ năm học 1972-1973, chương tŕnh đào tạo 4 năm bắt đầu thực hiện tại Trường Đại Học Nông Nghiệp. Thí sinh dự thi phải có Tú Tài 2 phổ thông hoặc nông lâm súc.

 

Dự Định Tương Lai , theo tài liệu [3] : Kể từ niên khóa 72-73 , thời gian học của sinh viên  đệ nhất cấp là 2 năm,đệ nhị cấp là 4 năm.

Chương tŕnh huấn luyện dự trù cho giáo sư đệ nhất cấp : 30% Sư Phạm và 70% Chuyên môn. Và 2 năm kế tiếp để tốt nghiệp giáo sư trung học NLS đệ nhị cấp : 20% Sư Phạm và 80% Chuyên môn.

Tài liệu [7] trích theo kỷ yếu Nha Học Vụ NLS 1974, ghi Ban Cao Đẳng Sư Phạm NLS hiện tại  (năm 1973 hay1974 ?) có 182 giáo sinh .

Đoạn văn sau đây trích từ tài liệu [8]  viết bởi một cựu sinh viên khóa VII (1972-1974)  (khóa cuối cùng của trường Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc ) cho thấy những điều kiện học tập và chọn lựa nhiệm sở sau khi tốt nghiệp của sinh viên :

‘’ Chính danh th́ có tên trường, nhưng không có trường sở . Trụ sở Nha Học Vụ Nông Lâm Súc Sàig̣n tại số 9 đường Mạc Đỉnh Chi ,Quận 1-Sài g̣n, là nơi cưu mang các sinh viên sư phạm NLS.  Các lớp học ké ở nhiều chỗ, lư thuyết lẫn thực hành đều lưu động .

Cho nên cả trong lúc học sinh viên ở các lớp ít có cơ hội gặp nhau trong trường, hầu hết là dân xa nhà trọ học, chúng tôi gắn bó với nhau qua các sinh hoạt tập thể của lớp nhiều hơn.

Khóa VII trường Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc chiêu sinh năm 1972, ngoài lớp Canh Nông, Mục Súc và Công Thôn c̣n có lớp Sinh Hoạt Gia Đ́nh (SHGĐ)  chỉ có 15 nữ sinh viên, nên chúng tôi hay gọi đùa tên khóa ḿnh đầy đủ là Nông -Lâm Súc- Sinh; Và có lẽ sau khóa chúng tôi chưa kịp chiêu sinh khóa kế tiếp, cho nên khóa VII là út chót của trường và h́nh như lớp SHGĐ cũng là lớp duy nhứt ? .

Theo chương tŕnh năm thứ nhứt ,cả khóa cùng học chương tŕnh khoa học cơ bản, lư thuyết, thực hành đều lưu động, cho nên lớp tôi khi th́ học ở Thảo Cầm Viên (Sở Thú), lúc th́ vào thí nghiệm ở Đại Học Khoa Học -Sài g̣n, Đại Học Nông Lâm… học lư thuyết thường ghép lớp tùy theo môn học, lớp SHGĐ hay ghép với lớp Công Thôn, có khi cả khóa học chung.

Sang năm thứ hai , th́ đi vào chuyên khoa, lư thuyết có các môn tâm lư sư phạm, tâm lư nhi đồng, ngoại ngữ…Lớp tôi do cô Ngọc Liên phụ trách trẻ đẹp rất mode được đào tạo ở Mỹ về nhớ như cô là tiến sĩ tâm lư, Như một người chị, cô Liên rất gần gủi thân thương, truyền cho chúng tôi những kiến thức cơ bản về giao tiếp, về đối nhân xử thế, về thẩm mỹ quan đời sống, và cả cách làm đẹp.

 Cô Nữ phụ trách các môn học nữ công gia chánh, chúng tôi tới học ở nhà cô giáo. Cô cho đi thực hành ở nhà hàng, thông qua mối quan hệ của cô giáo mà chúng tôi thường đi tham quan thực hành ở những nhà hàng sang trọng thời đó như Continental, Majectic, Hoàng Gia… Ở nhà hàng Majectic trong một lần thực tập, tôi được tham gia vào nhóm làm bánh cưới 7 tầng cho đám cưới của nữ tài tử điện ảnh Thẩm Thúy Hằng và ông Nguyễn Trọng Oánh .Rồi đi học cách nuôi  dạy con nít ở các trường mầm non quốc tế hay ở các Hội Dục Anh ( nơi nuôi trẻ mồ côi) …học vẻ, thêu thùa, đan móc, cắm hoa… ở các trung tâm…và cô c̣n kết hợp tổ chức triển lăm mi ni giới thiệu những sản phẩm chúng tôi làm ra…

Tháng 12 năm 1974 ,khóa VII tốt nghiệp, c̣n nhớ lúc đó ngay trong ngày chọn nhiệm sở chúng tôi lấy bản đồ nửa chữ S đo độ dài bằng gang tay để ước lượng khoảng cách xa gần tính từ Sài G̣n đối với những địa danh trong danh sách nhiệm sở có nghe tên mà chưa từng được đến và nhất là xem đó có phải là vùng chiến sự ác liệt hay không,

Hồi đó trước khi nhập học và khi ra trường sinh viên đă phải nộp một bản cam kết : Phục vụ bất cứ nơi nào trên lănh thổ Việt nam cộng ḥa nếu không tuân thủ phải chịu bồi hoàn toàn bộ chi phí đào tạo rất lớn và không sẽ c̣n cơ hội làm công chức.

Cái cách cho sinh viên chọn nhiệm sở căn cứ vào kết quả học tập, danh sách nhiệm sở được công bố trước 24 giờ, ghi rơ số lượng nhu cầu ở mỗi trường, đến giờ th́ gọi sinh viên theo thứ hạng, đă chọn th́ không được thay đổi, tuy nhiên nếu giữa sinh viên đồng ư hoán đổi cho nhau th́ cùng làm đơn gửi liền trong ngày sẽ được chấp thuận. Trong danh sách phần lớn là những nơi rất xa và lạ, thực ra những chỗ tốt đă được giải quyết cho các trường hợp có ưu tiên thuyên chuyển, sau nầy cô tôi nói cho tôi biết như thế.

Hôm ấy ở lớp Công Thôn ,bạn Mỹ Huy hạng 5 được gọi tên nhưng vắng mặt, người hạng 6 là bạn Bồ Văn Nguyệt chọn nhiệm sở Đà Lạt, là nơi mà Huy dự định sẽ chọn, cuối buổi Huy giận, bạn bè xúm nhau giải thích ḥa giải.

Ngày chọn nhiệm sở cũng là ngày họp mặt cuối cùng của lớp nhưng ai cũng lo lắng về cái nơi mà ḿnh sẽ phải để bắt đầu một công việc mới nên không ai quan tâm lưu luyến chuyện họp tan.

Ai mà biết cũng từ ngày chúng tôi chọn vận mệnh cho ḿnh, sự trục trặc nhỏ của Huy và Nguyệt khi ấy lại là bạn Nguyệt đă chọn lấy số mệnh ngắn ngủi của ḿnh, bởi v́ chỉ hơn hai tháng sau đó trên đường chạy loạn,bạn  Nguyệt đă bị chết đuối ở biển Phan Thiết. C̣n nữa bao nhiêu số phận thăng trầm của 110 bạn cùng khóa của tôi từ sự lựa chọn ngày ấy có 2/3 nhiệm sở ở vùng ngoài và Tây nguyên đều trăi qua cuộc trốn chạy chiến tranh mang tên là di tản chiến thuật kể từ tháng 3/1975.

Bây giờ nhớ lại, kiến thức chuyên môn của một thời sư phạm của tôi tuy không có cơ hội thực hành giảng dạy trực tiếp v́ sau biến động thời cuộc 30-4-1975, hệ thống trường trung học nông lâm súc không c̣n, tôi vẫn được đi dạy nhưng mà phải chuyển qua dạy văn rồi làm quản lư, nhưng những kiến thức cơ bản ấy với tôi vô cùng quư giá cho bài học làm người trong cả cuộc đời, có phải rằng nhờ vốn kiến thức đa đoan như thế mà tôi đă có thể cân bằng quan hệ đối xử, làm tốt được những đa đoan trong công việc cũng như cuộc sống của ḿnh ! ‘’ .

Theo tài liệu [1] : Năm học 1974-1975, tuyển sinh vào năm thứ nhất tại trường Đại Học Giáo Dục (Tiền thân là Trung Tâm Huấn Luyện Sư Phạm Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức )  thuộc Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức.

(Phụ chú : Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức gồm có 7 trường đại học thành viên trong đó có Trường Đại học Nông Nghiệp (Tiền thân là Trung Tâm Quốc Gia Nông-Lâm-Súc, rồi Học viện Quốc gia Nông Nghiệp (1972) . Xem thêm chi tiết trong bài  Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức  và bài Trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật của cùng tác giả ) .

 

Sau ngày mất nước , 30 tháng 4 năm 1975, tất cả giảng viên Ban Sư Phạm Nông Lâm Súc tập trung về Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật (Trung tâm Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức ?) .

 

Phụ đề 1: Nha Học Vụ Nông Lâm Súc

Theo tài liệu  [7] :

Việt Nam là một quốc gia có sở trường về Nông Nghiệp với những tài nguyên thiên nhiên: Nào là vựa lúa miền đồng bằng sông Cữu Long, với hàng trăm ngàn cây số sông ng̣i, kênh rạch chằng chịt, hơn 2.200 cây số bờ biển và hằng triệu mẫu rừng thuộc miền cao nguyên Trung phần, là những kho tàng quí giá để nuôi sống dân tộc.

Trên đường xây dựng đất nước, chánh phủ đă và đang đặt trọng tâm vào công cuộc sản xuất với nền tảng là Nông Nghiệp đóng góp một phần quan trọng vào việc phục hưng phát triển kinh tế trong giai đoạn sau chiến tranh.

Dân Việt Nam vốn hiền ḥa, nhẫn nại,có tinh thần cầu tiến, dễ thích ứng với kỹ thuật Nông Nghiệp tiến bộ.

Để phổ biến đến đại chúng các kỷ thuật sản xuất Nông Nghiệp, ngành giáo dục Nông Lâm Súc (NLS) bậc Trung Học đă được Nha Học Vụ NLS thuộc Bộ  Văn Hóa Giáo Dục  Thanh Niên (VHGDTN) phát triển mạnh mẽ trên toàn quốc, đáp ứng nhu cầu thiết thực của nông dân, các con em của nông dân và thanh thiếu niên nông thôn.

Ngành học vụ NLS đă trải qua những giai đoạn thăng trầm của đất nước, hănh diện với vai tṛ  đóng góp nhân lực cho nền kinh tế nông nghiệp nước nhà.

Trước Thế chiến thứ 2 (1939-45) , số nhân viên chuyên môn về các ngành hoạt động NLS tạm đủ  để ứng phó với nhu cầu của các công sở và một số cơ sở khai thác tư nhân. Những trường hay nói cho đúng là những khóa huấn luyện đào tạo công chức cho các ngành này chỉ là những trường chuyên nghiệp đào tạo nhân viên cấp thừa hành gồm có:

-Một trường Cao đẳng Nông Lâm và một trường Cao đẳng Thú Y ;

-Hai trường Nông Lâm Thực hành: Một trường ở Tuyên Quang (Bắc Việt) và một trường ở Bến Cát (Nam Việt) ;

-Một trường Nông Nghiệp Thực Hành ở Xà No (Cần Thơ), lúc đó người ta quen gọi là Trường Lúa Gạo Cần Thơ.

Đến Thế chiến thứ 2 bùng nổ, để giúp số thanh niên trí thức có cấp bằng Tú Tài có cơ hội tiến thân. nhà cầm quyền đương thời đă mở thêm nhiều ngành đại học như: Khoa Học, Công Chánh, Nông Lâm Mục và qua mấy năm sau cải danh thành Trường Cao Đẳng Nông Lâm Mục có 2 Ban Pháp và Đông Dương. Trường này mở được tất cả là 6 khóa. Tuy nhiên trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến 1955, ngành học này đă ngưng hẳn trên mọi cấp.

Năm 1955, Bộ Canh Nông đă chính thức thành lập Nha Học Vụ Kỷ Thuật Canh Nông với các trường trực thuộc chung cho 3 ngành Canh Nông, Thủy Lâm và Mục Súc theo diễn tiến như sau:

a.     Năm 1955, thành lập Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục B’Lao với cấp Trung đẳng đào tạo tạo cấp Kiểm sự ;

b.     Năm 1957, thành lập Trường Canh Nông Thực Hành ở Cần Thơ;

c.     Năm 1958 thành lập Trường Canh Nông Thực Hành Huế đào tạo cấp Huấn Sự;

d.     Cuối năm 1959 thành lập cấp Cao Đẳng  tại Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc đào tạo Kỹ sư các ngành NLS ( ngày nay trở thành Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp và sẽ được chuyển về Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức).

Ngoài ra c̣n có những lớp ngắn hạn huấn luyện nông dân về kỷ thuật nông nghiệp, những lớp huấn luyện cán bộ như TÁ SỰ THÚ Y, CÁN BỘ KHUYẾN NÔNG…do các cơ quan Bộ Canh Nông tổ chức.

Đến cuối năm 1961, tất cả cơ sở giáo dục nông nghiệp trên được chuyển qua thuộc thẩm quyền của Bộ Quốc Gia Giáo Dục với danh xưng mới là NHA HỌC VỤ NÔNG LÂM SÚC đặt tại số 9 Mạc Đỉnh Chi SàiG̣n và tổ chức các cấp học được sửa đổi do 3 Nghị định ngày 24/6/1963 như sau:

- Cấp Cao Đẳng Trường QGNLM đổi thành Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc đặt tại số 45, đường Cường Để Sài G̣n (khu thành Cộng Ḥa cũ) ;

- Cấp Trung Đẳng Trường QGNLM Bảo Lộc Trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Nông Lâm Súc Bảo Lộc ;

- Hai Trường Canh Nông Thực Hành Cần Thơ và Huế đổi thành hai trường trung học đệ Nhị cấp NLS Cần Thơ và NLS Huế.

Trong các trường THNLS này c̣n có các lớp đào tạo Kiểm sự, Huấn sự các lớp bán th́, ngay cả các lớp huấn luyện ngắn hạn theo mùa.

Đến niên khóa 1973-74, Nha Học Vụ NLS quản trị 40 trường THNLS gồm 23 Trường Trung học NLS đệ Nhị cấp và 17 Trường Trng học đệ Nhất cấp gồm 267 lớp (từ cấp 8 đến cấp 12), 1128 Giáo sư, 11.414 học sinh .

Ngoài ra c̣n có 6 Tư Thục NLS thu nhận 1138 học sinh tư thục NLS.

Đến niên khóa 1974-75, lần lượt Nha Học Vụ NLS sẽ mở ra 2 Trường THNLS Kiểu Mẫu An Lạc  và  Trường Trung học NLS Trà Canh.

Ngoài những lớp thông thường ,c̣n có những khóa huấn luyện Nông Cụ Cơ Giới và 2 Trung Tâm lớp đêm THNLS Bà Triệu (Chợ Lớn) và Đồ Chiểu (Tân Định).

Ban Cao Đẳng Sư Phạm NLS hiện tại có 182 Giáo sinh và tại các trường Trung học NLS đệ Nhị Cấp Cần Thơ, Bảo Lộc, Huế, B́nh Dương có 256 sinh viên lớp đào tạo chuyên viên Cao Đẳng các ngành Túc Mễ, Rau Hoa, Hoa Màu Phụ, Nông Cơ, Kinh tế Nông Thôn, Nuôi Heo và Ngư Nghiệp. Trên các trường THNLS toàn quốc đă có 68 chi đoàn Nông Gia Tương Lai qui tụ trên 1.000 đoàn viên NGTLVN.

 Với những diễn tiến hoạt động vừa nêu trên, thiết nghĩ ngành Giáo dục NLS bậc Trung học đă  đáp ứng theo đường hướng phát triển ngành Giáo dục Nông Nghiệp của Chính phủ.

 Việt Nam là một nước Nông Nghiệp. Trong công cuộc phục hồi và tái thiết xứ sở sau chiến tranh, Nông Nghiệp vẫn là ch́a khóa căn bản để giải quyết mọi vấn đề. Do đó việc đào tạo chuyên viên , cán bộ Nông Nghiệp và huấn luyện Nông Gia giỏi, tiến bộ là công việc tối cần thiết cho chương tŕnh trực tiếp  hoặc gián tiếp yểm trợ tăng gia sản xuất và hoàn tất các dự án phát triển quốc gia và là một trong bốn công tác lớn mà Chính Phủ đă chính thức đề ra cho năm 1974.

 

Tiến tŕnh giám đốc Nha Học Vụ Nông Lâm Súc :

1- Ông Lâm Văn Văng.

2- Ông Lương Sĩ Chương.

3- Ông Đỗ Thúc Vịnh

4- Ông Đặng Quan Điện.

4- Ông Hà Văn Thân.

Danh sách các giám đốc Nha Học Vụ Nông Lâm Súc- H́nh  trích từ tài liệu [9] 

 

Tổ chức nhân sự Nha Học Vụ Nông Lâm Súc  dưới đời giám đốc Hà Văn Thân :

1- Ông Hà Văn Thân, Giám Đốc.

2- Ông Hứa Văn Túc, Chánh sự vụ Hành Chánh và Học vụ.

3- Ông Vương Quan Phước, Thanh tra viên.

4- Ông Vũ Quốc Dũng, Thanh tra viên.

5- Ông Trần Đắt Quới, Chủ sự pḥng Hành chánh và Tài chánh.

6- Ông Châu Kim Lang, Chủ sự pḥng Học vụ và Khảo thí.

7- Ông Phạm Hồng Hải, Trưởng Ban Khảo thí.

8- Ông Vũ Minh Yên, trưởng Ban Học vụ.

9- Cô Trần Kim Thạnh, Trưởng Ban đặc trách về các lớp chuyên viên và Cộng đồng.

10- Cô Trang Kim Phụng, Trưởng Ban Văn thư.

11- Ông Nguyễn Ngọc Khôi, Trưởng Ban Lương bổng.

12- Ông Đỗ Hữu Kinh, Trưởng Ban Hành chánh.

13- Và Ông Phạm Đắc Tường, Trưởng Ban Tư thục.

 

Ông Hà Văn Thân, Giám Đốc - H́nh trích từ tài liệu  [7] 

 

Nhân viên Nha Học Vụ Nông Lâm Súc thời ông Hà Văn Thân làm Giám Đốc - H́nh   trích từ tài liệu [9] 

 


Nhân viên Nha Học Vụ Nông Lâm Súc thời ông Hà Văn Thân làm Giám Đốc - H́nh   trích từ tài liệu [9] 

 

 

Phụ đề 2 : Sơ Lược Tổ Chức  Giáo Dục Trung Học Nông Lâm Súc

Theo tài liệu  [3] :

A- Trường trung học Nông Lâm Súc

         

1-Mục Đích:

Trường trung học Nông Lâm Súc ( NLS) có mục đích :

đào tạo nông dân có tŕnh độ kỹ thuật tiến bộ;

đào tạo chuyên viên phục vụ  nông nghiệp ;

huấn luyện phụ nữ nông thôn thích nghi với đời sống và sinh hoạt tiến bộ của gia đ́nh xă hội nông thôn;

mở những lớp dạy nghề cho thanh thiếu nhi nông thôn,nông dân nâng cao tŕnh độ nghề nghiệp và kiến thức nông thôn;

sửa soạn cho  học sinh lên lớp chuyên viên trung đẳng cấp 1 cấp 2 ,kỹ sư và cao đẳng sư phạm NLS .

                   

2-  Các trường trung học NLS

2-1.  Trường tiểu học cộng đồng NLS có tất cả 58 trường có lớp 6 và 7 NLS chia ra:

Vùng I  :  7 trường ;

Vùng II:  13 trường ;                      

Vùng III :  13 trường ;                

Vùng IV :  25 trường .    

Mục đích : Hướng dẫn thiếu niên nông thôn làm quen với ngành học NLS và chuẩn bị cho học sinh lên bậc trung học NLS.         

               

2-2.  Trường Trung Học Nông Lâm Súc Đệ Nhứt Cấp : Hiện có 17 trường tại 4 vùng chia ra như sau:

Vùng I   : Quảng Nam,Quảng Ngăi ;

Vùng II  :Phú Yên ,Khánh Ḥa,Đà Lạt,B́nh Thuận,Pleiku;

Vùng III : An Mỹ,Phước Tuy;

Vùng IV :An Giang,Bạc Liêu,Cái Bè,Hà Tiên,Kiến Phong,Kiến B́nh,Sa Đéc,Vĩnh B́nh.

Mục đích:

Chuẩn bị cho học sinh học lên bậc Đệ 2 Cấp

Chuẩn bị cho học sinh lên học lớp chuyên viên trung đẳng cấp 1 NLS(hs không đủ điều kiện theo học Đệ 2 Cấp và muốn hoạt động ở cộng đồng nông thôn) .

 

2-3. Trường trung học Nông Lâm Súc Đệ Nhị Cấp: Hiện có tất cả 10 trường tại các nơi sau đây:

Vùng  I   : Huế;

Vùng II    :Bảo Lộc , Ninh Thuận;

Vùng III    :B́nh Dương ,Tây Ninh,B́nh Tuy ;

Vùng  IV   :Cần Thơ,Định Tường,Long An,Ba Xuyên.

Mục đích :

Thâu nhận học sinh các trường Đệ nhất cấp ;

 Đào luyện học sinh có khả năng để tiếp tục lên bậc Cao Đẳng và Đại học ;            

Chuẩn bị cho học sinh lên lớp chuyên viên trung đẳng cấp 2 để trở thành nông dân tiến bộ hoặc hoạt động trong mọi lănh vực sản xuất kỹ nghệ,thương mă,tín dụng,biến chế,khảo cứu liên hệ đến nông nghiệp.

Tổ chức ;

             

Sau khi qua lớp 9 học sinh sẽ tiếp tục lên bậc đệ 2 cấp và bắt đầu chọn ban theo sở thích,các ban gồm có:

Canh Nông : chương Tŕnh nặng về phần canh tác ;

Mục Súc :     chương tŕnh nặng về phần Chăn nuôi thú y;

Thủy Lâm   : Chương tŕnh nặng về phần khai thác rừng;

Công Thôn   : Chương tŕnh nặng về phần máy móc dụng cụ dung trong nông trại.

 

3- Điều kiện nhập học

3-1.  Bậc Đệ Nhất Cấp

Muốn nhập học lớp 8 NLS mọi học sinh  dđều phải qua một kỳ thi tuyển;

Nam từ 13-15 và nữ từ 13 – 18 tuổi (tính đến 31-12 năm mở cuộc thi);

Đă học hết chương tŕnh 6-7 phổ thông hoặc 6-7 Nông Lâm Súc Cộn Đồng,đặc biệt  cộn them 1/10 tổng số điểm có được trong kỳ thi cho thí sinh đă học qua lớp 6 -7 NLS Cộng đồng.

Hồ Sơ Dự Thi gồm có :

Đơn xin dự thi có dán ảnh ;

Khai Sinh ;

Bản Sao Văn bằng Tiểu Học ;

Bản sao chứng chỉ học tŕnh lớp 6-7 với điểm trung b́nh 10/20 trở lên ;

Giấy cho phép của phụ huynh học sinh có thị thực ;

Chứng chỉ sức khỏe do bệnh viện Công Lập cấp (nộp sau khi trúng tuyển).

Chương Tŕnh Thi :

Toán            hệ số 3           thời gian 1;30        h́nh thức :  2 bài Toán

Lư hóa                  3                           1:30                         :câu hỏi giáo khoa + 1 bài toán

Vạn Vật                2                            1:00                         :một số câu hỏi

Kiến thức phổ thông  hs 2                 1:00                         :câu hỏi Công Dân,Sử Địa,Văn.

-Kiến thức NLS               3                 1:00                         :câu hỏi chương tŕnh NLS.

 

3-2. Bậc Đệ Nhị Cấp

a- Miễn qua các kỳ thi tuyển: Những học sinh có văn bằng trung học đệ nhất cấp NLS tuổi 13-17 cho nam sinh và 15 – 20 tuổi cho Nữ sinh (tính đến 31-12 năm mở cuộc thi) .

b- Qua kỳ thi tuyển: Trường hợp số học sinh miễn thi vượt quá số dự tuyển hay trường hợp không đủ học sinh dự tuyển th́ trường sẽ tổ chức cuộc thi .

Hồ sơ Dự thi gồm có (tương tự như bậc đệ nhất cấp khác là Chứng chỉ hay văn bằng của lớp 9 và không có giấy cho phép của phụ huynh)

Chương Tŕnh Thi :Chương tŕnh lớp 9 trung học phổ thông.

*Môn thi,hệ số,thời gian,h́nh thức giống như ở đệ nhất cấp.

 

4- Quyền Lợi

a/ Bậc Trung học Đệ nhất Cấp:

-Học sinh sau khi học hết bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp nếu trúng tuyển bằng TH NLS sẽ tiếp tục lên lớp 10 bậc Đệ nhị Cấp.

-Nếu học sinh v́ lư do ǵ không theo học Đệ nhị Cấp có thể theo học lớp Chuyên Viên Trung Đẳng cấp một thời gian học lớp này là 12 tháng và chỉ học chuyên nghiệp,Học sinh tốt nghiệp sẽ đi làm ở các cơ quan tư nhân hay công quyền.

b/Bậc Trung Học Đệ nhị Cấp:

Học sinh sau khi học hết bậc Trung Học Đệ nhị Cấp và đổ bằng tú tài phần 2 NLS sẽ:

-Được Ưu tiên miễn thi vào Trung Tân Quốc gia Nông Nghiệp nếu hội đủ diều kiện

-Được dự thi vào tất cả các trường Cao Đẳng và Đại Học

-Được dự thi vào lớp chuyên viên trung đẳng câp 2,thời gian học là 12 tháng và chĩ học chuyên môn các ngành: Ngư Nghiệp -Nông Cơ -Nuôi Heo – Nuôi Gia Cầm – Kinh tế Nông Thôn –Túc Mễ - Thủy Lâm.

Sauk hi tốt nghiệp sinh viên có thể được thâu nhận làm ở các cơ quan công hoặc tư có liên quan đến ngành học.

 

B- Các Lớp Chuyên Viên                     

      

I Mục Đích:

 Ở các trường TH NLS đệ nhị cấp ngoài các lớp 8 -12 NLS c̣n có những lớp:

 Chuyên Viên Trung đẳng cấp 1

Chuyên Viên Trung đẳng cấp 2

Các lớp này có mục đích :

Huấn luyện cho học sinh không đủ điều kiện lên học bận Trung học Đệ nhị cấp hay Cao Đẳng;

Đào tạo chuyên viên có đầy đủ khả năng chuyên môn về Nông nghiệp để phục vụ moi5 lĩnh vực sản xuất,thương mại.kỹ nghệ,tín dụng nông nghiệp.

                                           

II Các Trường Trung Học Đệ Nhị Cấp có Lớp Chuyên Viên:

 Huế                      chuyên viên cấp 1 & 2

B́nh Dương                                            2

Định Tường                                      1

Cần Thơ                                           1 & 2

Ninh Thuận                                      1

 

III Tổ Chức

Lớp chuyên viên cấp 1 và 2  có học kỳ là 12 tháng (dự trù trong tương lai là 24) chia ra như sau:

8 tháng học về các môn chuyên môn;

4 tháng tập sự ở các nông trại các cơ sở liên hệ đến ngành học.

 Các lớp chuyên viên trung đẳng cấp 1& 2 có những lớp sau : Ngư Nghiệp – Nông Cơ –Nuôi Heo –Nuôi Gia Cầm – Kinh Tế Nông Thôn –Túc Mễ - Cây Ăn Trái – Thủy Lâm.

 

IV Điều Kiện Nhập Học

a- Lớp chuyên viên cấp 1 : Những học sinh có bằng Trung học đệ nhất cấp NLS sẽ được nhập học lớp chuyên viên trung đẳng cấp 1 nếu số học sinh không quá số dự tuyển,Nếu quá sổ dự tuyển phải qua một kỳ thi.Học sinh muốn dự thi phải có những điều kiện sau:

ü  Hạn tuổi: được 16 tuổi và không quá 17 tính đến 31-12 năm mở cuộc thi với học sinh sắc tộc hạn tuổi  từ 16-19

ü  Học Lực: có văn bằng TH  đệ nhất cấp ngành NLS.

Chương tŕnh thi : gồm 4 bài viết dưới h́nh thức một số câu hỏi soạn theo chương tŕnh NLS tùy theo các môn thi liên hệ.

b- Lớp chuyên viên trung đẳng cấp 2:

Những học sinh có bằng tú tài 2 NLS sẽ được nhập học lớp CVTĐ cấp 2 nếu số học sinh không quá số dự tuyển.Nếu quá số dự tuyển th́ phải qua một kỳ thi tuyển.Muốn dự thi HS phải có những điều kiện sau:

ü  Nữ từ 18-24 Nam từ 18-20 tuổi tính đến 31-12 của năm thi;

ü  Hạn tuổi có thể lùi tối đa cho công chức bằng số năm tiền công vụ nhưng không quá 10 năm;

ü  Ứng viên người sắc tộc:hạn tuổi từ 18-24 tính đến 31-12 năm thi ;

ü  Học lực có bằng Tú Tài phần 2 kỹ thuật ngành NLS thuộc ban liên hệ.

Hồ sơ thi

A- Nộp trước khi thi :

Đơn xin dự thi ;

Giấy phép cha mẹ ;

Bản sao văn bằng TT 2 NLS;

Giấy cam đoan bằng ḷng phục vụ trong cơ quan chính phủ sau khi tốt nghiệp trong thời gian 10 năm,có thị thực chánh quyền ;

-Giấy chứng nhận sắc tộc nếu là ứng viên sắc tộc. 

B- Nộp sau khi trúng tuyển  :

1 trích lục tư pháp lư lịch không quá 6 tháng tính đến ngày nhập học ;

1 chứng chỉ hạnh kiểm không quá 3 tháng tính đến ngày nhập học;

1 chứng chỉ sức khỏe do bệnh viện công lập cấp ;

Thí sinh công chức không phải nộp chứng chỉ Hạnh Kiểm ,tư pháp lư lịch nhưng phải kèm giấy cho phép dự thi của trưởng cơ quan liên hệ cấp. 

Chương Tŕnh Thi : Gồm 4 bài viết dưới h́nh thức một số câu hỏi soạn theo chương tŕnh lớp 10-11-12 trung học NLS.   

 

V- Học Sinh có bằng Chuyên viên Trung Đẳng (CVTĐ)  Cấp 1 và Cấp 2 được hưởng quyền lợi ǵ ?

a- Học sinh tốt nghiệp các lớp CVTĐ cấp 1 có thể được bổ dụng tại các cơ quan chính phủ với chỉ số lương 250.Làm việc tại các Nông trại,các đồn điền ,các xí nghiệp liên hệ đến nông nghiệp và hưởng lương rất hậu cho việc trông nom cơ sở sản xuất của ḿnh v́ đă thu hoạch được nhiều lợi tức.

b- Sinh viên tốt nghiệp các lớp CVTĐ cấp 2 có thể được bổ dụng tại các cơ quan chính phủ với chỉ số lương 350 .

Làm việc tại Nông trại,đồn điền xí nghiệp,ngân hàng nông thôn và được hưởng lương rất hậu.

Là nhà sản xuất giỏi có nhiều lợi tức nâng cao đời sống cá nhân và kinh tế quốc gia.      

 

Tài liệu tham khảo :

1.     https://thnlscantho-4.page.tl/Cao-%26%23273%3B%26%237861%3Bng-s%26%23432%3B-ph%26%237841%3Bm-NLS.htm CĐ Sư Phạm NLS - Châu Kim Lang.

2.     https://nls.hcmuaf.edu.vn/contents.php?ids=23985&ur=nls&lng= Thầy Đặng Quan Điện – Nhà Giáo Dục Nông Nghiệp Miền Nam .

3.     https://nonglamsuctayninh.com/hinh-anh/389-nen-giao-duc-nong-lam-suc.html Nền giáo dục Nông Lâm Súc  09 Tháng 8 2011 Viết Bùi Tho - In và tŕnh bày tại Trung Tâm Chuyên Nghiệp Phan Đ́nh Phùng – Số 2 ,đường Phạm Đăng Hưng- bởi Bùi Tho .

4.     https://nonglamsuctayninh.com/hinh-anh/347-nhung-thang-ngay-voi-truong-cd-nong-lam-suc-sai-gon.html  Những  Tháng Ngày với Trường CĐ Nông Lâm Súc Sàig̣n - Viết bởi Trần Văn Đạt -07/06/ 2011.

5.     https://daihocsuphamsaigon.org/index.php/vainetvetruong Cựu sinh viên ĐHSP Sàig̣n-Vài nét về trường ĐHSP Sàig̣n-Phạm Thị Nhung, ban Việt Hán - ĐHSPSG, khóa 1958-1961 bổ túc.

6.     Tieng Dan- Đôi điều về lương bổng, phụ cấp của quân nhân-công chức miền Nam trước tháng 4.1975 (Phần 1)-Bởi  AdminTD-Lê Nguyễn 27/10/2022.

7.     http://lientruong-thnls.com/link/tu-lieu-ve-nha-hoc-vu-nong-lam-suc-trich-theo-ky-yeu-nha-hoc-vu-nls-1974- Tư liệu về Nha Học Vụ Nông Lâm Súc - Trích theo kỷ yếu nha học vụ NLS 1974.

8.     https://khoa2lamnghiephue.com/news/thay-co/cao-dang-su-pham-nong-lam-suc-mot-thoi-da-xa Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc  - Một thời Đă Xa-  Phan Thị Thúy  Truyển -  Khóa VII  CĐSP -NLS- SG .

9.     https://nonglamsuctayninh.com/hinh-anh/223-hinh-anh-tu-lieu-ve-nha-hoc-vu-nls.html h́nh ảnh tư liệu về Nha Học Vụ NLS 09 Tháng 2 2011 .

 

 

14- Phụ lục  : Những mốc thời gian quan trọng trong quá tŕnh  xâm chiếm Việt Nam và xây dựng các hạ tầng cơ sở thiết yếu bởi người Pháp :

Ngày 29 tháng 1 năm 1859 :  Pháp chiếm Thành Phụng (thành Gia Định).  Pháp gọi  Thành này  là ‘’Citadelle de Saigon’’ ;

Năm 1859 :  Ngay sau khi  trận chiến chiếm Thành Phụng chấm dứt,  Pháp xây Cimetière Européen (sau này là Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi khu Tân Định-Sài g̣n) ;

Ngày 22 tháng 2 năm 1860 : Pháp xây Thương Cảng Sàig̣n ;

Năm 1860 :  Pháp thành lập  " Sở Dây Thép" Sàig̣n (sau là  Bưu điện Sàig̣n) và được xây cất lại năm 1886 ;

Tháng 2 năm 1861 :  Pháp tấn công và chiếm được Đại đồn Kỳ Ḥa (Chí Ḥa) của Nguyễn Tri Phương ;

Ngày 11 tháng 4 năm 1861 : Đô Đốc Charner ban hành nghị định thiết kế quy hoạch Saigon Cholon. Phó Đô Đốc Bonard thừa hành giao cho Đại Tá công binh Coffyn thực hiện quy hoạch xây dựng thành phố Sàig̣n nhằm đáp ứng công cuộc khai triển kinh tế và tăng cường khả năng lưu thông và vận chuyển thương thuyền, hàng hóa với miền Tây và Trung ;

Năm 1861 :  Đô Đốc Bonard  ra lệnh thiết lập ụ tàu ở Xưởng Thủy (hay Thủy Xưởng)  (Arsenal - Cơ xưởng Thủy Quân  sau là Xưởng Ba Son)  để sửa chữa tàu chiến, tàu buôn từ Châu Âu sang, cũng như đóng tàu chiến mới ;

Năm 1861 : Pháp mở trường  Collège d'Adran  ở Sài g̣n để dạy chữ Quốc Ngữ và  Pháp Văn cho các học viên người Việt và cả người Pháp để đào tạo ra thông ngôn và thơ kư  làm vịêc hành chánh dân sự trong những năm đầu sau khi người Pháp  thiết lập các cơ quan cai trị thuộc địa Nam Kỳ.

Năm 1862 :  Pháp thành lập Bệnh viện Quân sự (Hôpital militaire) ở Sàig̣n  cho  Quân đội Pháp (sau là  Bệnh viện Grall - bệnh viện Đồn Đất) ;

Ḥa ước Nhâm Tuất (1862) : Triều đ́nh Huế phải nhượng cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ và Côn Đảo với tất cả chủ quyền  và bồi thường chiến phí với số tiền lên đến 4 triệu franc (quan) Pháp (tương đương 2.880.000 lạng bạc) trong ṿng 10 năm ;

Ngày 8 tháng 5 năm  1862 :  Pháp thành lập trường Thông ngôn (Collège des Interprètes) ở Sảig̣n và năm 1905 tại Hà Nội dạy các quan cai trị (Tham Biện) .Trường này sau đổi tên là Collège des Stagiaires (Collège des Administrateurs Stagiaires) dùng để đào tạo quan cai trị thuộc địa. Giáo sư gồm nhiều nhà thông thái như Luro, Chéon, Trương Vĩnh Kư (Sĩ Tải), Trương Minh Kư (Thế Tải), vân vân ;

Năm 1864 ( hay 1865) : Pháp quản trị bệnh viện Chợ Quán xây dựng bởi người Việt  vào  năm 1862 ;

Năm 1867 :  Pháp chiếm  thêm  3 tỉnh miền Tây c̣n lại của Nam Kỳ;

Hiệp ước Giáp Tuất 1874 (ngày 15 tháng 3 năm 1874 ) : Hiệp ước có nội dung chính là thay thế bản Ḥa ước Nhâm Tuất (1862) . Theo đó, để Pháp lui binh khỏi Bắc Kỳ, nhà Nguyễn đồng ư cắt nhượng chủ quyền ở 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp, chấp nhận việc ngoại giao phải lệ thuộc vào Pháp, mở cửa cho Pháp tự do buôn bán tại các  hải cảng và trên sông Hồng, có quyền tự do truyền đạo Thiên Chúa. Chủ quyền lănh thổ và nền độc lập của Việt Nam đă gần như bị mất sau hiệp ước này.

Từ năm 1874 :   Pháp xây chợ Cầu Ông Lănh ở Sài g̣n . Xét về mặt kinh tế, chợ Cầu Ông Lănh là chợ quan trọng bậc nhất ở thành phố Sàig̣n, Chợ Lớn và Gia Định. Đây là chợ đầu mối. Tất cả hàng hoá, lúa gạo, rau cỏ, hoa quả, trái cây, gà heo, cá tôm, cây kiểng, bông hoa... từ Lục Tỉnh và miền Đông đổ về đây để bán sĩ cho các chủ vựa. Sau đó các chủ vựa này phân phối bán lại cho các chợ trong địa bàn, để sau cùng bán lẽ tới tay người tiêu thụ. Từ nhiều thế hệ, chợ này đă tạo ra hàng trăm, hàng ngàn công ăn việc làm và góp phần làm giàu có thịnh vượng sung túc cho thành phố Sàig̣n nói riêng và cả miền Nam Việt Nam nói chung ;

Năm 1874 :  Pháp xây trường tiểu vả trung học Collège Chasseloup-Laubat ở Sàig̣n (sau là  Lycée Jean-Jacques Rousseau, trung học Lê Qúy Đôn) ;

Năm 1874 : Pháp xây trường tiểu vả trung học Lasan Tabert ở Sài g̣n ;

Năm 1877 : Pháp  xây Vương Cung Thánh Đường Sàig̣n ( sau là Nhà Thờ Đức Bà) ;

Năm 1879 : Pháp xây trường trung học Collège de My Tho - Collège Le Myre de Vilers- tức trường Nguyễn Đ́nh Chiểu sau này ;

Năm 1880 : Pháp đưa vào hoạt động hệ thống cung cấp và phân phối nước đầu tiên ở Sàig̣n, mang tên Thévenet , kỹ sư cầu đường, giám đốc Sở Công Chính . Năm 1900, hệ thống này vẫn là tài sản thuộc chính quyền Pháp-Sài G̣n nhưng việc quản lư, vận hành, bảo tŕ được giao thầu cho Công ty Điện Nước Đông Dương (CEE) ;

Ngày 7/12/1881 : Hệ thống xe lửa  Saigòn Chợ Lớn, Sai Gòn Gò Vấp-Hóc Môn được đưa vào hoạt động ;

20/7/1885. Tuyến xe lửa đầu tiên Saigon Mỹ Tho dài 70km được đem vào vận hành

Ḥa ước Quư Mùi (Harmand) 1883 : Hoà ước có tất cả 27 điều khoản với nội dung chính là xác lập quyền bảo hộ lâu dài của Pháp trên toàn bộ Việt Nam. Hiệp ước này chính thức đánh dấu thời kỳ, 1883-1945, toàn bộ Việt Nam nằm dưới sự khống chế của thực dân Pháp (thời Pháp thuộc ) : Nam Kỳ lá xứ thuộc địa từ năm 1874 nay được mở rộng gồm cả tỉnh B́nh Thuận thay v́ B́nh Thuận thuộc Trung Kỳ ;Trung Kỳ tức các tỉnh từ Khánh Hào ra đến Đèo Ngang thuộc triều đ́nh Huế ; Ở Bắc Kỳ (gồm cả ba tỉnh Thanh Hóa - Nghệ  An- Hà Tĩnh)  Pháp có quyền đặt công sứ ở các tỉnh để kiểm soát quan Việt nhưng đại để việc nội trị không bị ảnh hưởng;

Ḥa ước Giáp Thân 1884 hay c̣n có tên là Ḥa ước Patenôtre : Chia nước Việt Nam ra làm ba xứ: Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam), Nam Kỳ (Cochinchine) dưới ba chế độ khác nhau; Mỗi kỳ có một chế độ cai trị riêng như là ba nước riêng biệt :  Nam Kỳ là xứ thuộc địa Pháp; Bắc Kỳ và Trung Kỳ là xứ Pháp bảo hộ nhưng triều đ́nh nhà Nguyễn trên danh nghĩa vẫn được quyền kiểm soát. Trả các tỉnh Thanh Hóa,Nghệ  An và Hà Tĩnh trước thuộc Bắc Kỳ nay thuộc về Trung Kỳ và trả tỉnh B́nh Thuận trước thuộc Nam Kỳ hoàn lại cho Trung kỳ;

Từ năm 1884 tới 1888 : Pháp xây Nhà thờ Lớn Hà Nội (Nhà thờ chính ṭa Thánh Giuse, cũng gọi là Nhà thờ chính ṭa Hà Nội) ;

Ngày 20/7/1885 :  Tuyến xe lửa đầu tiên Saigon Mỹ Tho dài 70 cây số được đem vào vận hành ;

Năm 1891 : Pháp thành lập Viện Pasteur ở Sàig̣n ;

Vào ngày 23 tháng 10 năm 1896 : Trường Quốc Học Huế được thành lập ;

Năm 1897 :  Nhà máy điện đầu tiên của Sàig̣n do Công ty Điện lực Sàig̣n (Société d’Electricité de Saigon, lập năm 1896) của Hermenier và một số người khác góp vốn được xây dựng xong. Vị trí của nhà máy này ở gần đường Nationale (sau là đường Hai Bà Trưng ở địa điểm trụ sở  Công ty Điện Lực Việt Nam, ngay phía sau Quốc Hội) ;

Năm 1898 :  Pháp thành lập trường Cours d’Apprentissage, tiền thân của trường kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ -Sàig̣n để đào tạo thợ lành nghề phục vụ cho nghành đóng và sửa tàu bè của Hải quân Pháp tại Arsenal - Cơ xưởng Thủy Quân Pháp ;

Năm 1898 : Pháp bắt đầu xây dựng pont Paul-Doumer (Cầu Long Biên) trên sông Hồng;

Tháng 5 năm 1899 : Cầu Trường Tiền hay cầu Tràng Tiền bằng sắt bắt qua sông Hương  do hăng Schneider et Cie et Letellier thiết kế và xây dựng . Cầu được  khánh thành vào ngày 18 tháng 12 năm 1900 ;

Năm 1902 : Pháp thành lập Đại học Y Dược- Hà Nội ;

Năm 1902 : Với mục đích đào tạo người Việt giúp việc cho các cơ quan Công Chính , Pháp thành lập trường Công Chính đầu tiên đặt tại  Hà Nội có tên Trường Thư Kư và Cán Sự Chuyên Môn Công Chính (École des Secrétaires et Agents Techniques des Travaux Publics) và do Nha Tổng Thanh Tra Công Chính Đông Dương điều hành. Trường Cao Đẳng Công Chánh Sài g̣n là hậu thân của trường này ;

Năm 1902 : Pháp hoàn thành xây dựng  cầu B́nh Lợi trên sông Sàig̣n ;

Năm 1904 : Pháp thành lập nhà thương bảo hộ (Hôpital Indigène du Protectorat)- Sau  là  bệnh viện Yersin (1943), bệnh viện Phủ Doăn (1954) ;

Từ năm 1904 :  Pháp  mở ngành đào tạo Thú Y tại Việt Nam  để pḥng chống dịch bệnh gia súc và thanh tra thú sản .Qua nhiều cải tổ, vào năm 1938 ,Pháp thành lập tại Hả Nội trường Chuyên Nghiệp Nông Lâm Đông Dương (École Spécial d’Agriculture et de Sylviculture) .Trường này là tiền thân của trường Nông Lâm Mục (sau là Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sàig̣n , Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp ) ;

Năm 1904 hay 1906 : Pháp thành lập École des Mécaniciens Asiatiques (Trường Cơ Khí  Á Châu) ,tiền thân của trường kỹ thuật  Cao Thắng - Sài g̣n 1904 để đào tạo thợ máy và tài xế lái xe cho Hải Quân Pháp và kỹ nghệ hàng hải tại  Arsenal (Thủy Xưởng) . Đây là cái nôi  xuất phát Trường Cao Đẳng Hàng Hải ;

Năm 1908 : Pháp thành lập  Lycée du Protectorat (Trường Trung học Bảo hộ) thường được gọi với tên tiếng Việt là Trường Bưởi ở Hà Nội. Năm 1945, trường được đổi tên thành Quốc lập Trung học hiệu Chu Văn An ;

Vào thập niên 1910 : Pháp  cho đào Kinh Đôi ở Sài g̣n, đến năm 1919 th́ hoàn thành. Kinh này trở thành một trong những con kinh huyết mạch của hệ thống  thương cảng Sàig̣n lúc bấy giờ ;

Năm 1912 : Công ty Điện Nước Đông Dương (Compagnie des Eaux et d'Électricité de l'Indochine - CEE) đưa vào sử dụng nhà máy điện Chợ Quán (nhà đèn Chợ Quán);

Năm 1913 : Pháp xây chợ Bến Thành mà người ta thấy ở bùng binh Sàig̣n ngày nay;

Năm 1913 : Pháp thành lập trường  Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật  Gia Định,tỉnh Gia Định;

Năm 1915 : Pháp thành lập trường Nữ trung học Gia Long-Sàig̣n ;

Năm 1917 : Pháp thành lập trường Pháp Chính Đông Dương (École de Droit et d’Administration)  tại Hà Nội, tiền thân của  Đại học Luật Khoa Sài g̣n  ;

Năm 1917 : Pháp thành lập trường Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương (École Supérieure de Pédagogie) tại Hà Nội , tiền thân của trường Đại Học Sư Phạm Sàig̣n ;

Năm 1917 : Pháp thành lập trường  trung học Collège de Can tho, sau mang tên Phan Thanh Giản-Đoàn Thị Điểm ;

Năm 1919 : Pháp thành lập trường trung học  Albert Sarraut Hanoi ;

Năm 1922 : Pháp thành lập École Normale d’Instituteurs (École Normale) tại Sàig̣n để đào tạo giáo viên bậc sơ học và tiểu học ;

Năm 1922 : Pháp thành lập Sở Hải Dương Học Đánh Cá Đông Dương (Service océanographique des pêches de l'Indochine) tại Nha Trang , năm 1930 đổi thành Viện Hải Dương Học Đông Dương ,sau là Hải Học Viện Nha Trang ;

Năm 1924 : Pháp thành lập trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương ở Hà Nội, tiền thân của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sàig̣n ;

Năm 1924 : Pháp thành lập trường  Đại Học Kiến Trúc , nguyên là một ngành của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương tại Hà Nội;

Năm 1927 : Pháp thành lập trường trung học  Petrus Kư-Sài g̣n ;

Năm 1930 : Pháp xây phi trường Tân Sơn Nhứt – Gia Định ;

Năm 1941 : Pháp thành lập trường Cao Đẳng Khoa Học Đông Dương (École Supérieure des Sciences) tại Hà Nội  ,tiền thân của  Đại Học Khoa Học Sàig̣n .